Chương 3:
Họ lênh đênh trên biển khoảng hai tuần thì tàu cũng cập bến. Cái nóng phả vào trong thân tàu, gây nên cái cảm giác khó chịu rin rít dính trên da. Henry với tay lấy cái vali nhỏ hơn trên khoang chứa đồ xuống. Tay còn lại thì anh đẩy chiếc vali to hơn bên cạnh.
Hồi còi dài của thuyền trưởng báo hiệu con tàu cập bến thành công. Henry cùng Beth nối đuôi hàng người dài, men theo hành lang nhỏ để tiến ra cửa. Cơn sóng vỗ từng đợt khiến tàu neo đậu cứ nhấp nhô lên xuống. Vài người không chịu được mà bịt miệng, cố giữ cho bữa sáng ở lại trong bụng mình. Khi anh cánh cửa tàu vừa mở ra, luồng sáng vàng chói ập vào khiến hành khách ai nấy cũng phải nheo mắt lại. Kể cả những anh thủy thủ dày dạn kinh nghiệm cũng không thể chống lại thứ ánh sáng bùng nổ ấy. Hành khách nối đuôi nhau xuống bậc gỗ, mon men cẩn thận để tránh những gờ nổi. Phía dưới, một đám người đã đứng sẵn ở dưới. Họ là người bản địa trong bộ đồng phục đặc trưng của mấy tay lê dương. Ở giữa đám người đen sì sạm da ấy là một tên sĩ quan. Gã mang thần thái khác hẳn những người kia. Gã chống nạnh, ánh mắt dò xét nhìn xung quanh, dán chằm chằm vào bất cứ ai mà gã nghi ngờ.
Henry và Beth ngồi đợi ở phòng thủ tục nằm trong tòa hành chính của cảng. Bên trong chỉ có những hành khách trên chuyến tàu. Quầy lễ tân nằm sâu bên trong và chỉ có một nữ quân nhân đang vật lộn với đống sổ sách trên bàn. Cô ta là người Pháp, mắt xanh, tóc vàng xoăn xõa ngang vai. Đôi môi đỏ chót đang liên tục cử động kết hợp với bộ móng tay sơn đỏ đang dò từng dòng trong quyển sổ ghi chép. Người xếp hàng dài từ quầy đến tận cửa. Henry bảo Beth đợi mình trên chiếc ghế dài rồi anh cũng chen chúc vào hàng người đồng đúc, nóng nực ấy.
Mặt trời đã lên tới đinh và cái nóng kinh hoàng ban nãy nay còn nóng hơn gấp bội. Bên ngoài, có mấy tay lính lê dương vội vàng trú vào trong. Ai nấy đều mồ hôi nhễ nhại ướt hết cả áo. Da dẻ đỏ ửng, đôi môi trắng bệch khô khốc. Họ đứng sát cửa, tay bồng súng nép sát cửa, giấu nó khỏi tầm nhìn của những vị khách đang bức bối trong sảnh. Henry thở dài, thi thoảng anh nhìn về phía Beth và thấy cô đang đưa ánh mắt của mình hướng ra ngoài, nơi bãi cát vàng hiện ra rõ mồn một dưới ánh nắng kia. Từ phía xa, ánh sáng phản chiếu mặt biển một màu xanh tuyệt đẹp, chạy dài theo những con sóng trắng xóa vỗ từng đợt vào bờ.
Một bàn tay chìa ra trước mặt khiến Henry giật mình. Đó là một người lính địa phương với nước da ngăm đen và đôi mắt sắc sảo. Anh ta nhỏ người hơn Henry nhưng có một thần thái khác hẳn những tên lính khác. Đặc biệt, anh ta nói tiếng Anh rất giỏi.
“Thành thật xin lỗi anh, tôi được cử đến theo lệnh của đại tá Bernard.”
Giọng của anh ta có thể khiến người đối diện cảm thấy nhẹ nhõm và an tâm.
Sau đó, Henry được người này dẫn đi đến quầy ưu tiên, nơi chính anh ta là người thực hiện các thủ tục cần thiết mà không phải xếp hàng. Mọi chuyện diễn ra nhanh gọn và hai vợ chồng nhà Clawberg được đưa ra xe quân dụng chở về dinh thự của Đại tá.
Anh ta tự giới thiệu tên mình là Hiệp, sĩ quan dưới quyền trực tiếp của Đại tá Bernard. Hiệp là người cởi mở và rất hoạt bát. Anh ta trò chuyện cùng hai vợ chồng suốt quãng đường đi và kể họ nghe rất nhiều về đất nước này.
Quãng đường di chuyển mất khoảng một tiếng đi xe và họ phải băng qua một con đường mòn dẫn vào rừng. Hiệp vốn trước đó rất hồ hởi thì lúc này lại tỏ ra cẩn trọng bất thường. Anh ta yên lặng, vừa lái xe vừa quan sát xung quanh rất kĩ. Anh ta để ý những tiếng động nhỏ nhất. Thậm chí tiếng xào xạc giữa những bụi cây cũng khiến anh ta thoáng cau mày. Chỉ đến khi nhìn thấy một toán lính khác đi từ hướng ngược lại đến, trên tay lăm lăm những tiểu liên và súng máy thì Hiệp mới thả lỏng mình. Anh ta quay về phía sau, đưa tay lau nhẹ vầng trán lấm tấm mồ hôi hột.
“Chúng ta an toàn rồi.”
Lúc này, cả ba người mới tiếp tục những câu chuyện dang dở. Khi được hỏi về chuyện ban nãy, Hiệp bảo rằng dù chính phủ Pháp đã ra sức bình định vùng đất này, song vẫn còn những nguy cơ tiềm ẩn sâu trong những khu rừng kia. Anh kể họ nghe về Yên Thuận, một nhóm du kích nguy hiểm vẫn đang lẩn khuất đâu đó trong vùng đất này. Henry lặng người, bàn tay nắm chặt lại. Đúng là tên khốn kiếp kia chẳng bao giờ đưa ra cái gì miễn phí. Giờ đây anh và Beth sẽ phải trải qua hai tháng sống trong ngôi biệt thự chết tiệt kia với một nhóm du kích lảng vảng xung quanh.
Hiệp đánh tay lái, đưa xe vào một con đường dẫn lên đồi. Lúc còn đi ở ngoài, họ cảm thấy ánh nắng ở đây thật khắc nghiệt. Nhưng khi đi trên con đường này, một cảm giác lành lạnh chạm lấy da thịt của Henry và Beth. Ban đầu họ chỉ nghĩ do nơi đây được bao phủ bởi hai hàng cây dày đặc. Song nếu là cây thì cũng không thể lạnh lẽo như vậy. Cái lạnh này khác hẳn với bóng mát của cây cối. Nó thấu đến tận xương tủy và khiến lồng ngực người ta có cảm giác nghẹn lại. Đôi khi Beth ngoái đầu về phía sau để xem có ai đang nhìn mình không. Nhưng chẳng có gì ngoài mớ cây rừng và bụi gai dại vất vưởng bên đường. Cô nép vào người Henry. Trong mắt cô, những hoa văn trên vỏ cây hiện lên như những khuôn mặt méo mó đang theo dõi chiếc xe của họ. Những thân cây có hốc sâu như con mắt vô hồn không có lòng trắng, sâu hoắm và quỷ dị. Henry ôm lấy cô, nhận ra tim cô đang đập rất nhanh, mồ hôi lạnh rỉ ra dưới lớp áo lót. Anh định với tay bảo với Hiệp, nhưng Beth ngăn lại, cô muốn rời khỏi con đường này càng sớm càng tốt. Dẫu sao, ở trong bốn bức tường do con người tạo nên cũng an tâm hơn nhiều.
Căn biệt thự dần hiện ra sau mỏm đất ở đỉnh đồi. Từ đằng xa, người ta có thể dễ dàng nhìn thấy mái ngói đỏ lấp ló sau rạng cây xanh đậm. Vào những ngày trời nắng như thế này, cái màu đỏ ấy càng rõ ràng hơn nhiều.
Phần tường bên ngoài của ngôi biệt thự được phủ lớp sơn vàng. Một màu vàng sáng, ví như màu của những chú gà con mới nở. Hiệp gọi nó là Couleur de Poussin. Cái màu vàng ấy, cũng nổi bật khi ánh nắng chiếu vào. Nó bắt lấy những tia nắng, tích chúng lại rồi tỏa ra xung quanh hệt như một viên đá quý.
Trên những bức tường Couleur de Poussin ấy là những ô cửa sổ cao, nhiều lớp. Bên ngoài là cửa chớp bằng gỗ, bên trong là cửa kính. Với vị thế của Đại tá, Hiệp nói rằng bên trong còn một lớp cửa dày để gia cố lại trong trường hợp bị tấn công bởi bất kỳ thứ gì có thái độ thù địch, mà anh ẩn ý là nhóm du kích Yên Thuận.
Chiếc xe dừng trước cổng. Lúc này cả Beth và Henry mới thấy trực diện mặt trước ngôi nhà. Một cấu trúc đối xứng lấy cổng làm tâm. Không chỉ thiết kế của ngôi nhà, sân vườn cũng được chia làm hai phần đều nhau, dẫn vào bởi hai hàng cây được cắt tỉa gọn gàng. Chính giữa sân là một cái hồ nhỏ có hòn non bộ. Có lẽ, chỉ riêng cái cục đá đắt đỏ này là không thể đối xứng.
Đường vào được lát sỏi, bao vòng quanh cái hồ rồi từ đó tản ra ba hướng, lấy hồ làm trung tâm. Nếu nhìn từ trên cao, hòn non bộ như một viên ngọc được đính trên món trang sức chữ thập. Hiệp đánh xe theo hướng đối diện cửa ra vào, nơi dẫn thẳng vào sảnh chính.
“Chúng ta đến nơi rồi, mời anh chị xuống xe.”
Henry loay hoay một lúc mới lách người ra khỏi cái cửa xe bị kẹt. Chứng kiến cái cảnh dở khóc dở cười ấy, Hiệp nói rằng chiếc xe này mới chỉ là bản nguyên mẫu và nó sẽ còn nhận được những nâng cấp nhằm phục vụ cho chính quyền Pháp tại đây. Anh ta vừa nói về chiếc xe với vẻ tự hào khi mình là số ít những sĩ quan địa phương được sử dụng, vừa kéo cái áo đang mắc vào bản lề cửa của Henry ra ngoài. Khi đã giải cứu thành công, Hiệp ra phía sau, mở cái hộc lớn và lấy ra hai chiếc vali của đôi vợ chồng. Chiếc vali phải nói to hơn Hiệp, nhưng anh nhấc nó nhẹ tênh bằng đôi tay và đôi chân vững như bàn thạch của mình.
Hiệp dẫn Beth và Henry leo lên cái cầu thang ngắn, chỉ vài ba bậc rồi đứng trước cửa vào, một cánh cửa cầu kì với khung gỗ chạm khắc tỉ mỉ, mặt kính cách điệu và tay nắm cửa mạ vàng với những chi tiết hoa lệ sang trọng đậm chất quý tộc Pháp. Qua hình ảnh mờ nhòe phía sau lớp kính, Henry nhận ra có một người đàn ông đang tiến ra. Chiếc chốt bật mở một tiếng cạch lớn rồi từ bên trong, một người đàn ông vạm vỡ với bộ ria mép dày và mùi nước hoa nồng xuất hiện. Vừa thấy Henry, ông ta hồ hởi ôm lấy anh, ghì chặt anh như thể vừa tìm thấy chiếc phao cứu sinh của mình.
“Ồ xin chào! Xin chào!”
Ông ta nói với họ bằng tiếng Anh, nhưng chất giọng thì nhẹ nhàng và uyển chuyển đặc trưng của người Pháp. Ông đứng sang một bên, để lộ cái bụng to ẩn sau chiếc áo sơ mi quân đội đặc trưng của những tay sĩ quan cấp cao. Theo hướng dẫn của ông ta, Beth và Henry được dẫn vào trong phòng khách và yên vị trên bộ sô pha đắt tiền trong lúc chờ ông ta pha một ấm trà. Hiệp cũng theo sau, anh ta trao đổi với tay sĩ quan kia bằng tiếng Pháp rồi lật đật đẩy hai chiếc vali cạnh tràng kỉ. Anh ta quay sang Henry và Beth, thủ thỉ với họ, vừa nói vừa thở hồng hộc.
“Xin giới thiệu với anh chị, đó chính là Đại tá Charles Bernard, trưởng trạm quân y tại An Nam.”
Nói rồi anh ta cúi đầu xin phép rồi trở ra ngoài. Vừa lúc này, Đại tá trở ra với một ấm trà bằng gốm với những nét hoa văn tinh xảo.
“Đây là bình trà của một viên quan địa phương. Ông ấy đã tặng tôi ngày chúng tôi ký hiệp ước hòa bình.”
Bernard rót trà vào hai cái tách. Mùi thơm của trà xộc lên mũi Henry. Đó là một mùi thơm dễ chịu. Cộng thêm hơi trà nóng hổi phả lên mặt khiến những lỗ chân lông của anh nở ra. Cảm giác khoan khoái chạy khắp cơ thể khiến vai của anh vô thức chùng xuống.
Beth thì khác. Cô nhận lấy tách trà, cầm nó trên tay theo cung cách nhưng tuyệt nhiên không động đến giọt nào. Trên mặt cô thoáng có chút căng thẳng. Đôi mắt cô nhìn xung quanh, làm ra vẻ đang quan sát những họa tiết tỉ mỉ trên trần nhà. Nhưng thật ra, cô muốn tìm cái nguồn của cơn lạnh chạy dọc sống lưng từ khi bước vào nhà.
“Cô Clawberg? Trà không ngon sao?”
Beth giật mình nhìn lại và bắt gặp đôi mắt của Bernard. Nó màu xanh, nhìn chằm vào mắt cô như thể đang đục xuyên vào tâm can của cô. Tay này có chiếc mũi khoằm xuống, cong như một cái mỏ diều hâu đang chực chờ xẻo thịt bất kì con mồi nào.
“Không, thưa ông.” Beth nói, cô đưa tách trà lên và ngửi mùi thơm dịu nhẹ của nó. “Thành thực xin lỗi ông Bernard, đây là lần đầu tôi được vào nơi sang trọng như thế này.”
Bernard tỏ vẻ tự hảo. Đôi gò má ông đỏ ửng. Ông bỏ tách trà xuống, vươn hai tai ra sau rồi thả mình tựa vào ghế. Ông nhìn lên trần nhà, rồi lại nhìn xung quanh, nhìn đúng những chỗ mà Beth vừa nhìn ban nãy.
“Không có gì quá đặt biệt đâu thưa cô. Đây chỉ là thành quả của những năm tháng cống hiến cho chính phủ Pháp để mang đến văn minh cho mảnh đất này.”
“Vậy tại sao ông lại muốn bán nó tới vậy?” Henry đột ngột hỏi.
“Ồ.” Bernard vẫn bình thản, trưng ra cái vẻ kiên định của một người lính. “Tôi đã có tuổi, và thực sự không thể theo đuổi công việc ở nơi này được nữa. Chính vì thế, tôi muốn bán, không phải vì tiền, mà là gác lại mọi thứ về phía sau. Khi về già, tôi muốn bản thân mình chỉ gắn bó với căn nhà trên cánh đồng hoa oải hương hơn là phải nhớ nhung về ngôi biệt thự nằm trên mảnh đất An Nam này.
Tất nhiên, tôi biết anh có một vài nghi ngờ. Tại sao tôi không đưa nó cho chính phủ Pháp? Tôi có thể và tôi đủ quan hệ để kiếm một khoản lớn từ nó. Nhưng rồi sao? Vẫn sẽ là nước Pháp. Họ sẽ lại tìm đến tôi và nói cho tôi về tình trạng của ngôi nhà. Họ sẽ đặt lên vai tôi thứ mà tôi đã bỏ lại phía sau. Tôi muốn hoàn toàn thoát khỏi nơi này, Henry thân mến.”
Cái chữ “thân mến” thoát ra từ miệng của ông ta sở hữu ma lực cuốn hút lạ kì. Nó khiến Henry cảm thấy nhẹ lòng, lâng lâng như thể đang bay. Khác với gã sếp cục mịch ở nhà, chữ “thân mến” thốt ra từ Bernard mang cho anh cảm giác dễ chịu và khiến anh tin vào những gì tay Đại tá nói.
Tôi đã hiểu và lời hứa sẽ hoàn thành mọi thứ theo yêu cầu là những gì Henry trả lại Bernard. Ông ta rất hài lòng, buông vài câu đùa xã giao trước khi hướng câu chuyện vào vấn đề hợp đồng.
Đây là lúc mà những người phụ nữ nhường lại không gian riêng tư cho các cánh mày râu. Beth xin phép ra ngoài, cô dự định sẽ thăm thú xung quanh một lúc khi hai người kia đang chăm chú vào bản hợp đồng đang trải trên bàn.
Beth đi ra giữa sảnh chính và nhìn về hai bên. Cô thấy nhà bếp nằm bên phải và phòng làm việc riêng nằm ở hướng còn lại. Cô chọn đi vào nhà bếp. Hiệp đang ở trong đây. Anh ta đi ra từ một cánh cửa sắt lớn ở cuối phòng.
“A! Cô Beth.” Hiệp chào. “Cô đã tìm thấy nhà bếp. Thật may quá, tôi đang định dẫn cô đi xem.”
Hiệp chỉ cho cô kho thực phẩm được bảo quản kĩ càng trong một căn phòng lớn. Ở đây có rau củ và các loại đồ hộp và thực phẩm chế biến sẵn. Riêng chuyện thịt cá tươi, Hiệp sẽ quay lại đây mỗi tuần một lần để đưa Beth vào thị trấn để mua thực phẩm, cách ngôi biệt thự khoảng một tiếng đi xe.
Rời khỏi phòng bếp, Hiệp đưa Beth trở lại sảnh chính rồi để cô tự khám phá tiếp. Beth ngoái nhìn về phía bên, chồng cô và đại tá Bernard vẫn đang bàn công chuyện. Khác với vẻ hồ hơi và chuyên nghiệp của Henry khi anh liên tục giải thích kĩ càng các điều khoản trong hợp đồng, đại tá Bernard vẫn giữ nét mặt lạnh như băng. Ông ta ngồi yên lặng, nhoài người về phía trước và hai bàn tay đan vào nhau. Bernard toát lên vẻ kiên định như một con hổ rình mồi.
Beth đi tiếp vào phòng làm việc. Một không gian sáng sủa hiện ra trước mắt, khác với vẻ lạnh lẽo của tổng thể ngôi nhà. Những ô cửa sổ cao đón những tia nắng và ban phát chúng cho toàn bộ căn phòng. Nắng chiếu thẳng đến chiếc tủ gỗ, nơi đựng những quyển sách dày, những tập tài liệu được bọc cẩn thận và xếp thành từng chồng. Bên cạnh chiếc tủ gỗ là quả địa cầu để trên một giá đỡ bằng đá được phỏng theo hình dáng của cột trụ trong điện thờ thần Hy Lạp cổ đại. Trên tường, ngay trên tường là hai khẩu súc trường xếp chép lên nhau, biểu tượng của sức mạnh bộ binh Pháp. Nóc tủ cũng có một mô hình thu nhỏ của đại bác, loại có bánh xe và hướng nòng về phía mặt trời. Bàn làm việc được đặt hướng về phía Nam, sao cho ánh sáng tự nhiên tối ưu nhất. Chiếc bàn gỗ với những hoa văn được chạm trổ tỉ mỉ. Trên bàn có để một chiếc đèn. Nhưng lớp bụi mỏng bám trên đó và bao phủ xung quanh chứng tỏ nó hiếm khi được sử dụng. Có lẽ đại tá thích dùng ánh sáng tự nhiên và chỉ làm việc vào ban ngày. Ông ta thích cái cảm giác được tận dụng tất cả những gì mà thiên nhiên ban tặng hơn là dùng những đồ vật nhân tạo.
“Cô thích nó chứ?” giọng của Bernard vang lên phía cửa ra vào. Beth giật mình, cô quay lại thì thấy ông Đại tá đã đứng ở đó từ khi nào. “Đây là chỗ ưa thích của tôi... tất nhiên là trừ phòng phẫu ra. Tôi đã sưu tầm rất nhiều sách y khoa… .” Ông chỉ vào cái tủ. “… tôi mang những kiến thức đó đến đây với hy vọng tìm ra cơ hội để thực hành chúng.” Ông ta tiến lại gần Beth, xoay quả địa cầu một cách tinh nghịch. Rồi không rõ vô tình hay cố ý, đế giày của ông ta đập vào tủ, để lộ ra một tấm ảnh chụp cũ. Bên trong là hình ảnh của một người phụ nữ bản địa. Cô ta rất đẹp với ánh nhìn sâu hoắm, ma mị và cuốn hút. Cô ta mặc một chiếc váy dài che cả phần chân. Bernard nói rằng màu đỏ rất đẹp.
“Đó là một người bản địa đáng mến.” Ông nói. “Cô ấy đã giúp đỡ tôi rất nhiều. Thật tiếc khi tôi không thể dùng tài năng của mình để cứu cô ấy.”
“Cô ấy mất vì gì?” Beth hỏi.
“Bệnh dại.” Ông nói cộc lốc rồi lấy lại tấm ảnh, cất nó vào ngăn bàn.
Henry đang cười nói rôm rả với Hiệp ở bên ngoài. Họ trao đổi với nhau về đất nước của mình. Anh kể Hiệp nghe về Anh quốc, còn Hiệp nói với anh những điều lý thú ở An Nam.
“Nhân tiện cho tôi xin phép một chút, anh nói rằng Beth là người gốc An Nam sao? Vậy ở đó có nhiều người An Nam không?” Hiệp vừa hỏi vừa uống tách trà trên tay.
“Tôi không rõ, những người tôi biết là vợ và mẹ của cô ấy. Tôi không rõ những người bản địa ở đây như thế nào. Nhưng anh, vợ tôi và mẹ cô ấy quả thực là những người tốt bụng nhất mà tôi biết. Và… tôi mong tất cả người An Nam đều như vậy.”
“Khà… khà, thật vinh hạnh cho tôi. Tôi thắc mắc, họ có hay đi chùa hoặc cúng bái không? Tôi thật sự không tưởng tượng nổi việc cúng kiếng ở nước ngoài sẽ diễn ra như thế nào.”
Henry nhấp một ngụm trà, anh ngả người ra sau suy nghĩ một lúc.
“Tôi có thấy nhưng không chắc họ làm gì. Họ thắp lên cái gì đó như nến rồi cắm nó vào một cái bát rất đẹp. Sau đó họ khấn vái, thường thì mẹ của Elizabeth sẽ là người khấn. Tôi hy vọng họ có bản tiếng Anh, bởi khi tôi hỏi những điều ấy có nghĩa là gì, bà chỉ nói nó dành cho những người đã khuất. Ban đầu tôi lấy làm lạ, tại sao họ phải làm vậy với người chết. Nhưng dần dà, tôi dần chấp nhận quan điểm và đức tin của họ. Có lẽ điều đó khiến tôi chiến thắng những người khác để cưới được Beth.”
“Thật thú vị cho một người nước ngoài. Nhưng đó là văn hóa của chúng tôi, thưa anh Clawberg. Đối với chúng tôi, người đã khuất luôn ở đây, luôn ở bên cạnh che chở và bảo vệ chúng ta. Đó là lý do chúng tôi luôn tuân theo những điều răn, cố gắng sống thật tốt và lan tỏa những điều tích cực.”
“Họ thật sự tồn tại sao?” Lúc này anh tỏ ra hứng thú. “Anh… đã từng thấy họ chưa?”
“Tất nhiên. Lúc mới vào quân ngũ, tôi thường được phân công làm nhiệm vụ ban đêm. Đó là khi tôi thấy những bóng trắng lảng khuất sau những bụi cây. Hay những đốm ma trơi lơ lửng giữa không trung.”
Đại tá Bernard cắt ngang cuộc nói chuyện sôi nổi của họ.
“Nào các quý ông, tôi tin rằng chúng ta không nên nói về chuyện đó. Chẳng có gì gọi là ma quỷ cả. Có lẽ anh Hiệp đây đã quên mất hiện tượng ma trơi là do phốt pho từ xương người?”
Hiệp bỏ tách trà, cúi đầu tỏ vẻ hối lỗi như một chú cún con.
“Anh Clawberg, xin hãy an tâm là chẳng có gì có thể làm hại anh khi anh ở trong dinh thự. Hiệp là người cẩn thận, song anh ta đôi khi hơi thái quá và khiến người ta bất an.”
Nói xong, ông ta đi ra xe. Hiệp đã ra trước và chuẩn bị sẵn sàng mọi thứ.
“Tôi sẽ không làm phiền anh chị nữa. Ngôi biệt thự từ bây giờ do anh chị quản lý. Như đã bàn bạc, tiền lương của anh sẽ được nhận từ ngân hàng Đông Dương. Chuyện lương thực sẽ do chị nhà quản lý và tất nhiên anh Hiệp sẽ đến đây mỗi tuần một lần để hỗ trợ việc ấy.”
Khi trình bày xong, ông ta nhắc Henry rằng có những số điện thoại cần thiết ở trong hộc bàn phòng làm việc và anh có thể sử dụng điện thoại nếu có chuyện khẩn cấp. Ông ta nhấn mạnh chữ KHẨN CẤP. Điều đó khiến Beth thắc mắc. Chuyện khẩn cấp có thể là những chuyện gì?
1 Bình luận