Tiểu Thuyết Dài Kỳ: Thuận Thiên Kiếm - Chương 38: Lửa Đốt Sao Trời, Gió Thổi Tro Tàn Ba Vạn Dặm (2/4)

Ảnh đại diện
Nghịch Tử Chuyên gia

Họ Mộc ở Vân Nam khởi nguồn từ khai quốc công thần người Hồi của nước Minh, cho đến tận nhà Thanh thì vẫn trấn thủ ở vùng này suốt hơn hai trăm năm. Nguyễn Đông Thanh còn nhớ ngày xưa xem Lộc Đỉnh Ký, bố gã từng nói Mộc Kiếm Bình, Mộc vương phủ là con cháu của lão.

Đối với Mộc Thạnh, đánh giá của cả Việt Nam và Trung Quốc đều chê nhiều hơn khen.

Trung Quốc nhận định họ Mộc là người kém tài, tập ấm chức của cha anh, nhưng vì trung thành nên được trọng dụng.

Sử Việt thì biến lão thành thằng não lợn, đánh trận nào cũng bị “diệt toàn quân”, còn mỗi thân mình bỏ chạy.

Nhưng Nguyễn Đông Thanh quay về thời Hồ mạt, làm chức kiểm kê chiến báo, biết cái chiến quả “toàn quân chết hết chỉ còn chủ tướng” nó vớ vẩn đến mức nào. Cho dù là một vạn con lợn bị trói, muốn giết hết cũng tốn một hai ngày. Đừng nói là con người biết phản kháng, biết tháo chạy, biết xin xỏ van lơn, biết dối trá lừa gạt...

Mà sau trận thua trước Liễu Thăng trên ngã ba Gián Khẩu, Nguyễn Đông Thanh cũng bắt đầu để ý trọng điểm đến tướng chỉ huy của địch.

Cũng từ lúc đó, hắn bắt đầu nhìn nhận Mộc Thạnh bằng một góc nhìn tư duy phản biện hơn.

Từ đó, Nguyễn Đông Thanh mới đi đến kết luận: động cơ lợi ích của họ Mộc có phần giống với Đông Ngô thời Tam Quốc.

Lang thang trên mạng đọc luận Tam Quốc, Nguyễn Đông Thanh rất tâm đắc với một phân tích: sở dĩ Đông Ngô thủ giỏi, công tệ là do chính sách “tư binh” của Tôn Quyền. Sau khi Tôn Sách chết, các quý tộc vùng sông Hoài, sông Tứ mất đất đai điền sản vào tay nước Ngụy dần tàn lụi, thì họ Tôn cũng dần dần hòa mình, khóa lại với các hào cường bản địa. Mà một trong những chính sách tổ chức quân đội đáng kể nhất của Đông Ngô là “quân tư nhân”, hay “tư binh chế”.

Tư binh chế, ý là quân đội thuộc quyền sở hữu của riêng tướng chỉ huy, số bộ khúc dưới trướng được truyền lại theo kiểu cha truyền con nối. Ưu điểm của phương pháp này rất rõ ràng; có thể bạo binh rất nhanh với chi phí thấp. Ngay mới rồi, Giản Định đế Trần Ngỗi và Đặng Tất cũng sử dụng cách này. Quân đội Lam Sơn trước sau đều thuộc quyền sở hữu và chỉ huy của Lê Lợi, chỉ nghe gã chỉ huy.

Nhược điểm, cũng rất rõ ràng.

Điều này khiến Giang Đông có sức phòng thủ rất lớn do sĩ tộc muốn bảo vệ ruộng đất sản nghiệp của mình, nhưng lại có sức tấn công vô cùng yếu do ai nào cũng muốn bảo toàn số lượng lính của nhà mình.

Họ Tôn nếu có thể làm cánh quân chủ lực, đánh đâu thắng đó, thì những đội quân tản mát này sẽ phát huy được tác dụng.

Nhưng nếu họ Tôn đánh không thắng, thì cũng đừng trông mong những đội quân tư nhân này sẽ dốc sức đánh trận.

Mà nhược điểm này, chính đang biểu hiện trên Mộc Thạnh.

Khởi nghĩa Lam Sơn, lão án binh bất động ở biên giới, chờ xem Liễu Thăng thắng bại ra sao rồi tính. Nếu Liễu Thăng thắng, thì lão cũng chẳng ngại xuôi nam, cứu Vương Thông lập công. Liễu Thăng vừa thua, thì lão đã chuồn thẳng, nhanh còn hơn cả thỏ.

Khi có Trương Phụ làm chủ soái, lão đánh thốc xuống phía nam, hạ họ Hồ, dẹp Hậu Trần.

Khi không có Trương Phụ làm mũi nhọn, Mộc Thạnh phát huy tinh hoa của bốn chữ “bo bo giữ mình” vô cùng hoàn mĩ.

Quân Minh và Đại Việt đánh nhau thắng thua thế nào vốn chẳng phải chuyện gì cần để bụng. Trong mắt Mộc Thạnh, chỉ cần Mộc gia quân của lão còn nguyên vẹn, họ Mộc có thể an ổn trấn thủ Vân Nam là được.

Nghĩ theo hướng này, thì việc lão bị cả sử Việt lẫn sử Tàu chê bôi cũng trở nên hợp lý.

Sử Việt, đương nhiên là cần một chiến công vang dội để ổn định nội bộ, cốt là để tạo dư luận binh tướng của tân hoàng thiện chiến vô song, hễ công là phá. Các tướng lĩnh mà hoàng đế mới muốn cân nhắc lập công vang dội thế gian, chấn động địa cầu, ngồi trên chức cao là hợp lý, hợp tình.

Mà sử Tàu, đương nhiên không thể bỏ qua cơ hội suy yếu ảnh hưởng và binh quyền của họ Mộc, nhất là đối thủ chính trị của hắn.

Nên...

Nguyễn Đông Thanh đánh cược dù thế nào đi nữa, Mộc Thạnh cũng sẽ lựa chọn bảo toàn binh lực Mộc gia quân, lui binh nhường lại Cổ Lộng.

Quân Vân Nam của Mộc Thạnh rút đi, cánh quân voi phía tây của quân Lam Sơn cũng có thể dứt ra, gia nhập vào chiến trường chính.

Cuối cùng, Mộc Thạnh lên tiếng:

“Thằng nhãi ranh, cái lưỡi của mày cũng dẻo thật đấy. Nhưng khi không nhường lại thành trì, cúp đuôi bỏ chạy thì chẳng khác nào loại thỏ đế, đồ nhát gan. Thế thì thanh danh, uy thế của bản hầu để đi đâu? Sau này làm sao có thể chỉ huy ba quân cho được?”

Nguyễn Đông Thanh bấy giờ mới len lén thở phào.

Không sợ người ta dùng công phu cẩu xực, chỉ sợ hắn không chịu há miệng yêu sách. Vì chỉ cần đối phương chịu ra giá, thì tức là còn chỗ trống để có thể thương lượng. Đây là điều mà gã học được sau cái lần thuyết phục Trần Nguyên Hãn góp voi chiến, tham dự trận vây quét Liễu Thăng.

Ho khan một tiếng, Nguyễn Đông Thanh mới hỏi:

“Chẳng biết quân hầu có yêu cầu gì? Có lẽ mỗ có thể thay chủ ta chấp nhận yêu cầu của ngài.”

Mộc Thạnh nói:

“Có câu: nhân tham Giao Chỉ tượng, khước thất Quảng Nguyên kim. Ta cũng muốn biết voi chiến phương nam các ngươi rốt cuộc có đáng giá đến thế không. Nếu như các ngươi nhường lại số voi chiến này cho bản hầu, thì bản hầu cũng không ngại nhường lại Cổ Lộng thành cho các ngươi.”

“Quân hầu làm khó mỗ quá. Mỗ chẳng qua là một gã thất phu với ba tấc lưỡi, nào dám tự tác chủ trương chuyển voi chiến cho quân hầu? Thế nhưng có mấy lời thật lòng, không biết quân hầu có muốn nghe hay không?”

“Cứ nói...”

“Voi chiến tuy là dũng mãnh, nhưng không nhanh bằng ngựa. Quân hầu là người phương bắc, thuyền chiến lại đều ở chỗ Liễu Thăng. Voi mà không được vận bằng thuyền thì chỉ tổ kéo chậm tốc độ hành quân của ngài. Chưa nói đến quản tượng, chỉ nội lương thực cho chúng cũng là một con số khổng lồ. Nay quân hầu lui binh, hào cường địa phương như cỏ đầu tường, chắc chắn sẽ không chịu giúp lương, tặng cỏ cho các ngài. Quân hầu xin đừng vì nuôi voi, mà để người chết đói.”

Mộc Thạnh cười phá lên:

“Người phương Nam các người đúng là gian xảo lắm. Câu nào câu nấy đều nói là nghĩ cho bản hầu, vì muốn tốt cho bản hầu. Thực tế là ngươi sợ bản hầu có voi chiến sẽ tham dự vào chiến trường, cùng Liễu Thăng hợp binh đánh bại các ngươi mà thôi.”

Nguyễn Đông Thanh nói:

“Cũng nhờ quý quốc dạy dỗ thường xuyên, người nước nam chúng ta mới lĩnh hội được một phần. Nói về độ vô sỉ còn thua người thiên triều thượng quốc các vị lắm.”

Nguyễn Đông Thanh đột nhiên đổi giọng nói cứng, khiến Trịnh Khả giật mình đánh thót. Nhưng gã vẫn cố tỏ ra bình thản, tay cầm ngọn kích lớn vác ngang vai, mặt hất lên đầy vẻ thách thức. Trông gã lúc này bố đời có khác nào Lữ Bố trong game Tam Quốc Vô Song đâu?

Mộc Thạnh nhìn Nguyễn Đông Thanh hồi lâu, rồi phá lên cười:

“Khá khen cho tên nhãi nước Nam, dám cạnh khóe cả thiên triều. Thôi. Voi có thể bỏ qua. Thế nhưng các ngươi định bồi thường bản hầu thế nào?”

Nguyễn Đông Thanh đáp:

“Ba trăm gánh lương thực, một trăm đàn rượu tăm, một trăm cân bạc trắng, mười cân vàng cốm chỉ cần quân hầu rút khỏi chiến trường Gián Khẩu, chủ ta nhất định sẽ cho người dâng lên tận cửa, gọi là tỏ chút lòng thành.”

***

Trong lúc Nguyễn Đông Thanh đi sứ thành Cổ Lộng, thì ở thủy trại, Trần Yên Chi dẫn theo Nguyễn Xí, Lê Lai, vừa chém đầu lính liên lạc. Ba người lại dẫn theo năm mươi kị, một cặp voi chiến mở đường, hai trăm bộ tốt theo sau, tấn công thọc sườn vòng vây của kị binh Mông Cổ.

Kỵ binh Mông Cổ đương nhiên là đáng sợ.

Song điểm mạnh nhất của kỵ binh là chia cắt quân trận, chặt đứt đường tiếp tế. Xông vào trại địch, chém tướng cướp cờ, kỵ binh tất nhiên là lựa chọn số một. Thế nhưng nếu đánh trận vây hãm, thì tác dụng của quân kỵ lại không lớn đến thế.

Quân Hậu Trần đông đến mấy vạn.

Lúc này, tuy không còn tướng chỉ huy, nên tự loạn lên với nhau trong thủy trại Liễu Thăng bỏ lại, nhưng ưu thế nhân lực còn đấy. Nói kị binh Mông Cổ vây trại, không bằng nói là bọn chúng sử dụng chiến thuật tâm lý. Lợi dụng tiếng vó ngựa rầm rập, tiếng la hét inh tai, cảnh tượng ngựa chiến nối đuôi tung vó, bụi mù cuồn cuộn để làm choán ngợp tâm lý của lính mới.

Lính mới sợ kỵ binh, không dám đánh lên phía bắc giáp công Liễu Thăng, đục thủng vòng vây.

Nói cách khác, mục đích của Liễu Thăng là dùng vài trăm kỵ kiềm chế mấy vạn quân dự bị của Hậu Trần, ngăn không cho bọn hắn gia nhập, tiếp viện chiến trường. Còn gã thì sử dụng bộ binh và cung thủ, từ từ ăn hết cánh quân tinh nhuệ và tướng chỉ huy của quân địch.

Chỉ có vài trăm kỵ, phải chạy liên tục từ phía đông sang phía tây của thủy trại để đe dọa bộ binh, thành thử trận hình của đội kị binh này bị kéo dài ra rất mỏng.

Khi voi chiến xuất hiện, theo sau là năm mươi kỵ của Lam Sơn, hai trăm lính tráng thiện chiến, thì vòng vây của quân Mông Cổ chẳng khác nào một tờ giấy nhúng nước, nháy mắt là đã bị đâm thủng.

Trần Yên Chi dẫn người xông vào trại, vừa muốn lên tiếng, thì lúc này trên một cái chòi cao, đã có một bóng người đứng sẵn. Gã giơ cao soái kỳ thêu chữ Phạm, quát to:

“Anh em, các vị, mọi người ở đây ai cũng là đàn ông gan như gan hùm, mật như mật gấu. Bây giờ chẳng có nhẽ vì một nhúm kỵ binh mà ru rú trong trại, chờ bị thiêu chết hay sao? Nếu ai còn huyết tính, ai còn bản lĩnh đàn ông, thì theo ta ra ngoài đánh một trận.”

dã sử Thuận Thiên Kiếm (tiểu thuyết) Xuyên Không Lam Sơn
Còn lại: 5
0%