Chiến trường phía đông...
Trên bờ sông, trong thủy trại quân Minh, quân Hậu Trần hỗn loạn tưng bừng.
Tướng lĩnh đều đã bị Liễu Thăng vây lại, chiền thuyền đã cập bờ muốn quay đầu chẳng phải chuyện một sớm một chiều. Lửa cháy, người kêu la, kỵ binh chạy rầm rập trước mặt. Quá nhiều chuyện cùng xảy ra một lúc khiến ngay cả những lính già dày dạn kinh nghiệm cũng bị choáng ngợp, hà huống chi một đám lính mới vừa được điều từ Hóa Châu ra bắc.
Một số nhảy xuống sông muốn bơi về bờ, tiếc là chết đuối giữa dòng. Số khác thì do trẻ tuổi khí thịnh, bèn họp thành nhóm nhỏ xông ra ngoài quyết chiến với kỵ binh của quân Minh.
Thế nhưng tân binh chỉ vừa được chiêu mộ, chưa trải qua chiến trường, trang bị đơn sơ, chỉ dựa vào máu nóng của tuổi trẻ làm động lực thì sao có thể là đối thủ của kỵ binh hạng nặng được? Thành thử, chẳng mất bao lâu, sự phản kháng rời rạc của những tân binh này đã bị kỵ binh Mông Cổ của quân Minh nghiền nát, theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng.
Quân Minh được thế, lấy giáo xiên vào thân thể tàn phế của những người này, giương cao lên trời mà ruổi ngựa chạy quanh doanh trại. Quân Hậu Trần nhìn đồng bạn từ Hóa Châu ra bắc với mình bây giờ ngực bị đạp lõm, đầu bị biến dạng, mình đầy máu tươi, thoi thóp treo một hơi thở, thân bị ngọn giáo dài xuyên qua mà treo lên cao như người ta treo con gà thì máu càng lạnh, sự kinh hãi trong dạ càng tăng thêm mấy phần.
Lúc này, ở phía tây chiến trường...
Quân Lam Sơn lợi dụng tượng binh làm một mũi dùi cứng rắn cũng đã đục thủng được phòng tuyến của quân Minh, tấn công dữ dội vào trại địch.
Trong bối cảnh không có tường thành che chắn, không có không gian để triển khai khinh kỵ thả diều, thì lực xung kích của tượng binh có thể nói là vô địch. Nhất là số voi chiến mượn được từ chỗ của Trần Nguyên Hãn còn là voi chiến chính quy của triều Đại Ngu, có kèm cả giáp voi.
Lưu Dục cưỡi ngựa, giương cung cài tên, bắn về phía quản tượng.
Thế nhưng, những người này đều có trang bị lá chắn, cung thủ trên bành voi cũng không ngừng nhả tên bắn trả. Thành thử, cho dù Lưu Dục có tài thiện xạ thì cũng chẳng thể nào cản chân được đám voi chiến.
Một tên thân vệ thấy quân voi càng lúc càng gần, bèn nói nhỏ:
“Tướng quân, rút lui thôi. Tượng binh thế như vũ bão, không ngăn cản được cũng không phải tội tại tướng quân.”
Lưu Dục lắc đầu, nói:
“Dục một kẻ thất phu, không được Liễu tướng quân hết lòng nâng đỡ thì sao có được ngày hôm nay? Những lời này sau này đừng nói nữa.”
Nói đoạn, gã lại bảo:
“Ngươi chọn mấy người cung mã nhàn thục, lập tức phá vây báo cho Liễu tướng quân, nhắc ngài ấy phải cẩn thận đề phòng. Họ Mộc Vân Nam không tin được đâu.”
Đoạn, không chờ tên thân vệ đáp, Lưu Dục đã tế ngựa, giương cung, xông về phía soái kỳ của quân Lam Sơn.
“Tặc tướng ở đâu, Lưu Dục đến đây? Có dám nghênh chiến?”
Lưu Dục một tay vung giáo, tay kia cầm cương, mở mồm quát ỏm tỏi. Giữa chiến trường hỗn loạn, giọng gã vang như chuông đồng, tiếc là không cùng ngôn ngữ nên tướng lĩnh Lam Sơn chẳng ai hiểu chữ nào.
Lê Lai giục ngựa, nói:
“Chúa công, để Lai lên bắt cái thằng la hét inh ỏi này.”
Nguyễn Xí cũng chen vào:
“Chúa công, Xí xin lập quân lệnh, trong năm mươi hiệp nhất định chém được tướng địch dưới ngựa.”
Lê Lợi nói:
“Chuyện chém tướng không gấp. Trần tướng quân, phiền cô dẫn Lê Lai, Nguyễn Xí, cùng toàn bộ kỵ binh của ta truy kích lính liên lạc của địch, sau đó thừa cơ vào thủy trại, lấy soái kỳ của Phạm Thanh, chỉnh đốn quân đội. Về phần tên tướng chột mắt kia thì để ta đích thân ta đấu với hắn một trận.”
Trần Yên Chi gật đầu, không nói nhiều nữa. Bùi Bị được phái ra chiến trường phía tây trợ giúp Bùi Quốc Hưng. Trong quân Lam Sơn hiện tại Lê Lai là người đầu óc đơn giản, Nguyễn Xí còn quá nhỏ, ngoại trừ cô nàng đúng là không còn người nào thích hợp hơn.
Lê Lai, Nguyễn Xí nghe thế, không khỏi buồn bực rên một tiếng. Nhưng rồi, cả hai đều chắp tay nhận lệnh, giục ngựa theo sau Trần Yên Chi.
Chờ cô nàng và hai tướng đi khuất, Lê Lợi mới chậm rãi thúc ngựa, kéo ngọn thương thép ra gặp tướng địch.
Lưu Dục thấy Lê Lợi còn trẻ mà lại mặc giáp sắt, cho là một cậu ấm dẫn quân, kinh nghiệm còn non, hoặc không cũng chẳng được mấy nả sức. Hắn bèn giục ngựa xông tới, vung giáo đón đánh, định bụng dùng uy thế của kẻ lăn lộn trên chiến trường để thị uy.
Lê Lợi nghiêng mình sang một bên, xốc giáo đánh trả. Đòn đâm của gã xé gió, phát ra âm thanh chói tai. Lưu Dục hoảng hồn nghiêng đầu tránh thì đã chậm, đầu thương của Lê Lợi sượt qua mặt, để lại một vết thương dài cả tấc. Máu đỏ rịn xuống mặt, lăn dài trên cổ, khiến trái tim gã nổi trống liên hồi.
Lưu Dục rút kinh nghiệm, múa giáo định đánh cầm chừng. Hắn muốn thủ vững như thành đồng, chờ Lê Lợi hấp tấp háo thắng tự lộ sơ hở, sẽ có thời cơ chuyển bại thành thắng.
Lê Lợi thì thừa thắng xông tới, thế công như vũ bão, đòn nào đòn nấy đều nặng như đá đè. Lưu Dục mấy phen phản công đều bị gã nhìn trước, sau đó nhẹ nhõm hóa giải.
Đánh nhau cầm đồng hai mươi hiệp, Lê Lợi lợi dụng con mắt chột của Lưu Dục, thọc được một thương vào nách của gã. Chỗ nách là nơi không được giáp che chắn, cũng là một chỗ tương đối yếu hại, song trúng đòn thì không lập tức mất mạng. Lưu Dục trúng một đòn đau thấu xương, còn chưa kịp hoàn hồn đã bị Lê Lợi mượn sức ngựa xô gã ngã khỏi yên cương.
Lưng Lưu Dục đập mạnh xuống đất, tiếng rên của hắn còn chưa kịp cất lên, thì trán đã trúng một đao bổ bằng tay trái của Lê Lợi.
“Tướng địch họ Lưu bị chém!”
Lê Lợi cắt đầu Lưu Dục, giơ cao trên ngọn thương, tiếp tục để quân voi dồn tới.
Sự xuất hiện của quân Lam Sơn tựa như một lưỡi dao chém ngay chỗ bảy tấc của con rắn, khiến đầu rắn Liễu Thăng và đuôi rắn Mộc Thạnh bị chia cắt. Bấy giờ quân ở Cổ Lộng nếu muốn viện trợ quân Minh đóng ở bờ sông thì buộc phải đánh xuyên qua liên quân Thanh – Nghệ – kinh lộ, đối đầu trực diện với một bầy voi chiến mặc giáp.
Mà đấy, cũng chính là tấm thẻ mà Nguyễn Đông Thanh định dùng để đánh bạc.
Thành Cổ Lộng...
Nguyễn Đông Thanh cưỡi lừa, sau lưng có một người làm thông dịch, và Trịnh Khả lẽo đẽo theo sau làm hộ vệ.
Trịnh Khả nuốt nước bọt, nhỏ giọng:
“Bá hộ Nguyễn, hai ta tuy có mâu thuẫn nhỏ, nhưng cũng không đến mức phải liều chết đúng không? Người muốn giết ngài là cha con Đặng Tất, Đặng Dung, chứ ta thì liên quan gì?”
Nguyễn Đông Thanh cười:
“Trịnh tướng quân cần gì phải nói những lời làm tổn thương hòa khí như thế? Thanh tin được vũ dũng của tướng quân, mới cố tình ngỏ lời mời tướng quân cùng đi một chuyến.”
Trịnh Khả ho khan:
“Bá hộ nói đùa. Võ nghệ ta được mấy cân mấy lạng cậu không phải không biết. Chuyến này đi lành ít dữ nhiều, địa vị của ta cũng không đủ để trấn phục kẻ khác. Không bằng mời Bùi tướng quân, hoặc Đặng Dung.”
Nguyễn Đông Thanh nói:
“Người mà mỗ cần lại chính là người lấy lá thép rỗng làm đại kích diễu võ dương oai như tướng quân.”
Ba người đến trước cổng thành, tên phiên dịch bèn nghển cổ thật cao, rống lên một tiếng đinh tai nhức óc:
“Sứ thần Đại Việt xin cầu kiến Mộc hầu gia.”
Chờ khoảng mười phút, thì trên đầu tường bắt đầu xuất hiện bóng dáng của cung tiễn thủ. Những mũi tên đặt trên tường thành, dây cung trùng xuống, chĩa về phía ba người. Từ xa cũng có thể trông thấy đầu mũi tên phản chiếu ánh nắng, lóe lên những tia sắc lạnh.
Lại qua một lát, thì có một trung niên mặc giáp, râu dài thúc ngựa ra khỏi thành, đằng sau là một đội kị binh cỡ ba bốn trăm người.
“Lá gan của đám giặc cỏ đất nam các ngươi cũng to lắm, chỉ có ba mạng người cũng dám đến đây khua môi múa mép trước mặt bản hầu. Chẳng nhẽ cho là đao của ta không sắc sao?”
(Ở đây nghiễm nhiên hiểu Mộc Thạnh và Nguyễn Đông Thanh giao tiếp với nhau thông qua phiên dịch)
Nguyễn Đông Thanh cười:
“Hai nước đánh nhau, không chém sứ giả. Quân hầu là người nước lớn, tự xưng là lễ nghi chi bang, hẳn là không đến mức làm cái chuyện hạ lưu như thế.”
Mộc Thạnh cười phá lên:
“Bản hầu đúng là chưa thấp hèn đến nỗi cần phải đối phó với một phái đoàn tay không tấc sắt. Mồm mép lanh lợi lắm. Nhưng cái miệng của ngươi có cứu được cái mạng của ngươi hay không?”
Nguyễn Đông Thanh nói:
“Mồm mép của mỗ có cứu được mạng mỗ không thì chưa biết, nhưng chắc chắn là cứu được mạng của quân hầu.”
“Ăn nói hàm hồ.”
“Quân hầu chinh chiến sa trường nhiều năm, hẳn là tự biết mỗ có ăn nói hàm hồ hay không. Bây giờ quân của ngài bị chia cắt với binh của Liễu Thăng, bên ta lại có lợi voi chiến, đánh dã chiến ngựa của ngài không đủ sức cứu được Liễu Thăng... Nếu như còn không đi, chờ chúa công ta quay đầu voi lại, thì ngài và binh mã dưới tay chẳng khác nào hổ trong cũi, chim trong lồng, chờ bị chúng ta bắt.”
“Chuyện chiến trường há lại có thể để một tên thư sinh chưa ráo máu đầu như ngươi đến đàm binh trên giấy?”
“Quân hầu hà tất phải tự lừa mình dối người? Quân hầu, họ Mộc ngài trấn thủ Vân Nam, chỗ dựa nào có phải là vị hoàng đế ở xa ngoài ngàn dặm? Chỗ dựa của ngài từ trước đến giờ đều là Mộc gia quân. Nếu như Mộc gia quân chết cả ở thành Cổ Lộng, vậy thì Vĩnh Lạc bớt được một mối họa.”
Nguyễn Đông Thanh nói khản cả cổ, sau đó im lặng chờ đợi.