Tiểu Thuyết Dài Kỳ: Thuận Thiên Kiếm - Chương 49: Phạm Văn Xảo

Ảnh đại diện
Nghịch Tử Chuyên gia

Trần Nguyên Hãn đưa người đến phủ, rồi đi.

Nguyễn Đông Thanh xoắn xuýt, muốn thả bọn họ về, cấp ruộng cho làm ăn, nhưng bị Trần Yên Chi ngăn cản.

Cứu được bọn họ, rồi cũng bị những tướng lĩnh, hào tộc khác bắt về làm nô, cướp đi ruộng đất mà thôi.

Trừ khi hai người có thể bảo vệ bọn họ cả đời.

Gã gọi tất cả những nô bộc, tỳ tất Trần Nguyên Hãn đưa đến vào buồng, hỏi kỹ nguyên do mà thành nô lệ.

Và họ bắt đầu kể.

“Bẩm ông, con vốn là con của phú thương, về sau cha vì không lo lót cho quan tri huyện mà bị hạ ngục, của cải sung công, nữ quyến thì vào sổ nô.”

“Thưa cụ, con vốn cũng có nhà, nhưng Chiêm Thành đến đánh, con không trả nổi thuế thân cho tri châu nên nhà cửa đều bị sung công hết.”

“Bẩm ông, con vốn là nạn dân, sang sông lánh nạn Liễu Thăng. Ngờ đâu khi về làng cũ thì ruộng đồng đã bị họ Phạm, họ Vũ chiếm cứ, chia cả. Con đòi lại thì họ siết mất nhà cửa, nhấn tay con vào giấy bán thân. Người ta có người, có lính, bên trên lại còn có các vị tai to mặt lớn chở che... con không dám đấu.”

...

Nguyễn Đông Thanh càng nghe, càng thấy lặng người.

Hắn loáng thoáng thấy được ở tay, ở chân của những người này còn rõ vết đòn roi, nhiều người nơi cổ còn hằn dấu tay Trên người đầy dấu vết, trong mắt không ánh sáng...

Thảm trạng nói cho hắn những người này đã từng phản kháng...

Đã từng chống cự.

Nhưng trước dòng lũ khủng khiếp đổ từ trên xuống của thể chế, sự phản kháng của bọn họ chẳng khác nào con gọng vó những tưởng khua động cả dòng sông.

Nguyễn Đông Thanh và Trần Yên Chi chỉ đành bảo bọn họ lui ra sau, tự mình xử lý vết thương, nơi ăn chốn ở, sinh hoạt cá nhân.

Nguyễn Đông Thanh ngẩng đầu.

Hắn còn nhớ, Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục có chép một đoạn lời chua khi nói về Đỗ Tử Bình:

“Hồi đầu đời Trần, dẫu có thuế đinh, nhưng thực ra chỉ hạng người có ruộng mới phải đóng. Đến đây, không cứ có ruộng hay không, thảy đều phải chịu thuế cả, chỉ binh lính được miễn.”

Đại Việt Sử Ký Toàn Thư cũng nói:

“Theo lệ cũ, các trấn hễ có việc binh thì lệnh cho mỗi huyện có bao nhiêu ruộng thì phải nộp bao nhiêu vàng, bạc, tiền, lụa, không tính thêm theo số nhân đinh sinh ra, cũng không trừ bớt theo số người đã chết. Nếu phục dịch việc binh, thì đều thu bổ theo số ruộng cả. Các lộ có đơn binh, là phải phục dịch việc binh, [những người này] đời đời làm lính, không được ra làm quan. Người nào có ruộng, bãi dâu, đầm cá thì phải đóng thuế, không có thì thôi. Đến đây, Tử Bình bắt chước phép đánh thuế dung của nhà Đường, thuế má lại nặng thêm.”

Đúng ra...

Theo đúng chính sách của triều đình, thì thuế thân không áp lên những người không có ruộng.

Thế nhưng, bây giờ, tận tai nghe những lời kể của các nạn nhân, Nguyễn Đông Thanh mới càng hiểu rõ. Vấn đề lớn nhất của xã hội phong kiến chưa bao giờ là chính sách, mà là phạm vi và sự khả thi của việc phổ biến chính sách.

Dân chúng mù chữ, Nho sĩ quan lại, thầy đồ thư sinh bảo sao thì biết vậy.

Trên triều, vua bảo người không có ruộng không cần nộp thuế? Nhưng đến địa phương, làm gì có ông quan “phụ mẫu” nào lại lấy vàng, bạc, tiền, lụa của cánh địa chủ, hào cường, sĩ tộc, thế gia? Quan trên còn cần tầm ảnh hưởng, vòng quan hệ của những người này để mà “quản lý một phương” mà.

Thuế này không đánh vào đám cùng đinh cù bơ cù bất thì đánh vào ai?

Đỗ Tử Bình, có lẽ là hắn thật sự tham, nhưng thiết tưởng chuyện thuế dung chẳng qua là hắn đưa luật lệ ngầm, bất thành văn lên mặt bàn mà thôi.

Đúng sai lẫn lộn, công tội khó bàn...

Trong chính sử, tiếng nói của trăm họ như bóng trăng tăm cá, muôn chữ ngàn dòng có lẽ chỉ để lại vỏn vẹn một chút dấu vết mà thôi. Miễn sao hào cường, địa chủ sống thoải mái, thì thời đại ấy trong sách sử chính là thái bình thịnh thế, muôn dân vỗ tay, thóc lúa đầy đồng trâu chẳng buồn ăn.

Hồ Quý Ly hạn chế ruộng tư, nô tỳ, hào cường vọng tộc đất kinh lộ đã phản loạn tính bằng đàn bằng lũ.

Nguyễn Đông Thanh bấy giờ mới hiểu rõ...

Cái gì gọi là “phép vua thua lệ làng”.

Cái gì gọi là “trên bảo dưới không nghe”.

Gã ngồi phịch xuống, mê mang và bất lực. Cho dù chính sách có tốt, có tiến bộ đến đâu, không phổ biến được thì cũng vô ích. Chính sách đả động tới lợi ích của tập đoàn địa chủ, sĩ tộc, bọn họ há lại để yên cho nó truyền ra khắp thiên hạ?

Thời đại phong kiến, đừng mong giai cấp đặc quyền có giác ngộ của thời hiện đại.

***

Người cuối cùng đến thăm Nguyễn Đông Thanh là Phạm Văn Xảo.

Bấy giờ đã quá giờ cơm tối, gã mới đủng đỉnh đi tới.

Phạm Văn Xảo đi tay không.

Gã chờ nô bộc trong nhà thông báo, mới thủng thỉnh bước vào.

Nguyễn Đông Thanh ngồi ở ghế gia chủ, trên bàn đặt một chén canh sâm. Trần Yên Chi ngồi ở bên phải gã, im lặng không nói tiếng nào.

Phạm Văn Xảo cười, nói:

“Lần trước ở bờ sông đã có dịp may mắn được thấy vẻ anh tư của công chúa, nay nghe hành khiển bị bệnh, mới thay mặt quan chức đất Hoa Lư đến thăm viếng.”

Nguyễn Đông Thanh nheo mắt, nhìn gã.

Ban nãy, nô bộc đã thông xướng: người đến thăm là Phạm Văn Xảo, bấy giờ đang giữ chức phát vận sứ, phụ trách điều phối lương thực ngũ cốc ra cho quân bắc phạt.

Nguyễn Đông Thanh không rõ kẻ này và Phạm Văn Xảo bị làm thịt trong sách sử có phải cùng một người hay không, nhưng để cho cẩn thận, gã vẫn nói:

“Ra là Phạm sứ. Mời ngồi. Sau này chuyện bắc phạt còn cần phải nhờ cậy đến ngài nhiều.”

“Hành khiển quá lời.”

Phạm Văn Xảo cười, đáp.

Nguyễn Đông Thanh lại hỏi:

“Cậu Xảo đến thăm, chắc không phải để nói suông, không biết là có gì chỉ bảo?”

“Chỉ bảo thì chẳng dám. Nhưng có một việc vui, Xảo mạo muội đến hỏi ý hành khiển.”

Phạm Văn Xảo nói xong, bèn một phong thư. Nguyễn Đông Thanh mở ra thì mới á khẩu, té ra là sinh thần bát tự, cùng chân dung của mười mấy cô gái.

Thẩm mỹ quan của người xưa thì... èm... không phải gu của hắn.

Tranh cổ của người xưa theo đuổi một trường phái khác hẳn, nếu như là tranh thủy mặc hay phong cảnh thì Nguyễn Đông Thanh còn ừ ào phụ họa được vài câu. Thế nhưng... tranh chân dung thì...

Quả thật không thấy nổi “đẹp” ở đâu.

Phạm Văn Xảo chỉ từng tấm chân dung, giới thiệu:

“Đây là thiên kim của họ Đinh, hiền lương thục đức, bát nhã tinh thông, vừa tuổi trăng rằm. Chỉ cần hành khiển không chê, nguyện theo làm thiếp, nâng khăn sửa túi.”

“Còn người này là tiểu thư họ Vũ, thông minh hiếu thảo, dịu dàng hiểu chuyện. Nếu hành khiển thích, chỉ cần gật một câu, ngày mai có thể ôm mỹ nhân về.”

...

Hắn nói một tràng dài, rồi mới cười:

“Tất nhiên, các nàng ai cũng là người biết thân biết phận, tuyệt không có ý tranh vị trí chính thất của công chúa.”

Nói đến nước này, Nguyễn Đông Thanh cũng hiểu ý đồ của phe Hoa Lư rồi.

Liên hôn chính trị.

Nguyễn Đông Thanh trên giấy xuất thân là hào cường đất Lương Sơn, bị Lê Lợi ép tòng quân, “cướp” gia nô sung quân. Một khi vào triều, hắn giống như là một cái bèo không rễ.

Vừa không có căn cơ chống lưng, lại có tài, loại người thế này phe phái chính trị nào cũng muốn mời chào về làm việc cho mình. Mà thủ đoạn thường dùng thời này không ngoài liên hôn, kết bái, lợi dụ mà thôi.

Chức quan của Nguyễn Đông Thanh là Trần Ngỗi phong, hơn nữa quan đã đến hành khiển, quyền hành không thể cao hơn nữa. Trừ phi Trần Ngỗi nhận hắn làm con, ban họ vua, thì mới có thể được thăng làm tam thái. Trần Ngỗi đi con đường “khôi phục nền thống trị triều Trần”, không thể làm trái tổ chế. Nhưng ban chức thái bảo, ấy cũng là một tín hiệu chính trị rõ ràng: Nguyễn Đông Thanh bấy giờ đã cốp nửa cái mác “bảo hoàng”.

Hắn liên tiếp lập công, hai lần đánh vào Cổ Lộng, trong mắt kẻ sĩ phong kiến, chí hướng của Nguyễn Đông Thanh hắn cũng đặt ở chuyện bắc phạt. “Chí hướng” của hắn và mục tiêu chính trị của phe kinh lộ do Đặng Tất nắm quyền không mưu mà hợp.

Thành thử...

Sau khi biết tin Nguyễn Đông Thanh có thuật “thiên lý nhãn”, phe Hoa Lư đương nhiên cũng cần phải làm một vài chuyện.

Đầu tiên là nhắc chuyện nhận nuôi Trần Yên Chi, phong chức công chúa, để tìm cách trì hoãn việc tiến binh của phe kinh lộ. Trần Ngỗi thấy vợ của tên hành khiển có thuật “thiên lý nhãn” bấy giờ thành con rể mình, thân càng thêm thân, tất nhiên là vui mừng đáp ứng.

Sau đó, Nguyễn Quỹ mới ra tuyệt chiêu: liên hôn.

Gả tiểu thư, thiên kim hào tộc Hoa Lư cho Nguyễn Đông Thanh làm thiếp thì cũng ngang với trói hắn lên con thuyền quan lại phái Hoa Lư. Không thể không nói, thằng cha Nguyễn Quỹ này bày liên hoàn kế, mưu trước bọc mẹo sau, khiến người ta khó lòng đề phòng.

Đáng tiếc là trí tuệ như vậy lại chỉ dùng vào nội đấu.

Nguyễn Đông Thanh nói:

“Cậu Xảo về nói với Quỹ Thanh là người có bệnh, hầu hạ công chúa đã muốn mất nửa cái mạng, sao dám nghĩ đến chuyện nạp thiếp?”

Gã vừa dứt lời, thì bàn chân đã bị Trần Yên Chi đá một cái. Lực nhẹ hều, cảm giác như bị một cục bông đụng phải, song vẫn đủ để Nguyễn Đông Thanh biết cô nàng đang bất mãn vì câu nói của gã.

Phạm Văn Xảo thì ho khan một tiếng, nhưng vẫn không đổi giọng:

“Nếu là như vậy, hành khiển lại càng nên nạp thiếp mới phải. Công chúa là bậc nhân trung long phượng. Phượng dực thiên tường, chí tại cửu thiên. Công chúa sải cánh vút bay, lên sa trường chém giặc cướp cờ, thì lấy ai chăm sóc của hành khiển. Ngộ nhỡ nói xúi quẩy, công chúa viễn chinh mà hành khiển đổ bệnh, há chẳng phải...”

Gã không nói tiếp, chỉ hơi cúi đầu.

Nguyễn Đông Thanh còn đang muốn từ chối, thì Trần Yên Chi đã nói:

“Nạp thiếp thì cũng không phải là không thể.”

dã sử Thuận Thiên Kiếm (tiểu thuyết) Xuyên Không Lam Sơn
Còn lại: 5
0%