Tiểu Thuyết Dài Kỳ: Thuận Thiên Kiếm - Chương 46: Đánh cho thiên hạ nhớ danh Lệ Hải, đánh cho chinh bào bay tại Chi Lăng

Ảnh đại diện
Nghịch Tử Chuyên gia

Trần Yên Chi chỉnh lại áo bào, mắt nhìn một lượt...

Bá quan văn võ, lúc này đều dùng đủ các loại ánh mắt nhìn cô nàng.

Có chờ mong, có hứa hẹn, có hăm dọa, cũng có khinh thường...

Toàn bộ, Trần Yên Chi đều nhìn rõ mồn một.

Cho dù cô nàng ra trận chém Lữ Nghị, dẫn đầu ba quân, đục xuyên qua vòng vây do thiết kị Mông Cổ tạo thành.

Cho dù, cô nàng có thể quyết định thành bại của phương lược tương lai của bọn hắn.

Thì cũng không quan trọng...

Trong mắt một số Nho sinh, thân là nữ giới, thân là một võ phu, cho dù tài năng cách mấy cũng không được phép leo lên chính đàn lịch sử. Đó là “tẫn kê ti thần”, là “hoắc loạn kỷ cương”.

Một giai cấp chỉ có thể trở thành giai cấp đặc quyền nếu nó bóc lột một nhóm người khác.

Trong xã hội phong kiến Á Đông, giai cấp đặc quyền là Nho giáo, là địa chủ.

Trong xã hội phụ hệ Á Đông, giai cấp đặc quyền là đàn ông.

Hai loại tư tưởng này chồng áp lên nhau, thân là Nho sinh sĩ lại, nếu muốn giữ cái đặc quyền đặc lợi của bản thân, đương nhiên không thể đồng ý cho một cô gái, một nữ tướng quân như Trần Yên Chi nổi danh.

Chuyện này liên quan gì tới đúng sai.

Càng không nói đến đạo đức.

Đơn giản, là một sản phẩm bắt buộc phát sinh của xã hội phong kiến phụ hệ mà thôi.

Một người rất khó phản bội lợi ích giai cấp của chính mình, lại càng khó mà tách bản thân khỏi phe cánh chính trị của họ. Có thể nói, trong tất cả những người mà Trần Yên Chi từng gặp, Nguyễn Trãi xứng là một mình một ngựa.

Cô nàng thở ra một hơi dài...

Ngẩng đầu nhìn về phía bệ rồng...

Trần Ngỗi đang ngồi co chân trên ghế, trước mặt là ấn ngọc trạm rồng. Bị ánh mắt của Trần Yên Chi tập trung, lão bất giác thấy rùng mình một cái, những ngón tay đặt trên ngọc tỷ run nhè nhẹ.

“Ánh mắt sắc thật.”

Trần Ngỗi không phải loại hoàng đế cá chậu chim lồng. Lão trốn được sự truy lùng của Trương Phụ, từ Yên Mô khởi binh, đoạt quyền của Trần Triệu Cơ, lại vào Hóa Châu hội họp với Đặng Tất, có thể nói là nửa đời người kinh qua binh lửa.

Nhưng ánh mắt lúc này của Trần Yên Chi sáng quắc, sắc lẻm, như lưỡi đao vừa rời vỏ, mũi tên vừa rời dây, đang dí sát yết hầu lão.

Trần Ngỗi không biết vì sao cô nàng lại nhìn mình như thế...

Nhưng, lão đoán được, câu trả lời của Trần Yên Chi.

Trần Yên Chi nói:

“Khải tấu thánh thượng. Khi xưa Nho sĩ cúc cung với Hán, duy chỉ có hai chị em ở đất Mê Linh dám dựng cờ dấy nghĩa, người đời xưng làm Trưng Nữ Vương. Đến thời Tam Quốc phân ly, sĩ tộc phần nhiều làm quan cho giặc. Cũng chỉ có duy nhất Lệ Hải Bà Vương không cam phận lệ thuộc, cưỡi voi giết địch.”

Câu nói này chọc ngoáy vào điểm đen lớn nhất của Nho giáo khi truyền bá vào nước ta.

Rất đơn giản: trước đây người Việt theo chế độ mẫu quyền.

Suốt thời Tần, Hán, Tam Quốc, hai cuộc nổi dậy lớn nhất, lên sử sách xứ người cũng là do phụ nữ lãnh đạo.

Ba vị anh hùng dân tộc đầu tiên đều là nữ.

Nhưng Trần Yên Chi nói vậy, chẳng khác nào đang ám chỉ: “các người lấy tư cách gì coi thường nữ giới chúng ta? Khi Hai Bà Trưng, Bà Triệu dấy binh các ngươi sao không nhảy ra?”

Trong sân tĩnh lặng như tờ, nhưng lại khiến người ta có ảo giác vừa nghe mấy tiếng vả mặt vang dội.

Đặng Tất ho khan:

“Trần tướng quân, xin nói chuyện chính đi.”

Trần Yên Chi đáp:

“Chi vốn là con của phản thần, may mắn giữ được tính mạng. Không dám vọng tưởng lấy được ngai vàng, nhưng nguyện học các vị tiên hiền, nữ đế, đánh cho thiên hạ nhớ danh Lệ Hải, đánh cho chinh bào bay tại Chi Lăng. Nếu vì sợ chiến mà lùi bước, xin nguyện như cây châm này.”

Nói đoạn rút châm, tóc xõa tung xuống lưng áo, nắm tay bẻ gãy đôi.

Đặng Tất nghe cô nàng tỏ ý bắc phạt, tuy không muốn thừa nhận địa vị của Bà Trưng, Bà Triệu, song cũng vẫn phải cắn răng khen hay, để mà thực hiện ý định chính trị.

Trần Ngỗi vui vẻ...

Lão nói:

“Nay trẫm không vui vì đoạt được Cổ Lộng, mà mừng vì nhận được phượng hoàng non như Yên Chi làm con. Tuy chiều theo ý con, mọi chuyện lễ nghĩa sắc phong đều giản lược, nhưng ban thưởng tất không thể thiếu. Cư sĩ, trẫm nghe quân ta đại phá giặc Minh ở bến Bô Cô, cướp được không thiếu chiến mã Mông Cổ. Làm phiền cư sĩ chuẩn bị cho công chúa một con ngựa khỏe, một bộ yên hồng, một tấm chinh bào bằng lụa gấm, một bộ chiến giáp, mã thương, họa kích, mỗi thứ ba thanh.”

Nguyễn Quỹ cúi đầu, hô:

“Khải tấu thánh thượng, công chúa là thân nữ nhi lên chiến trường, chuyện ngựa chiến, yên cương, trường thương, họa kích thì không khó, nhưng nếu muốn đo thân làm một bộ giáp mới cho công chúa thì còn cần một thời gian, do không có khuôn sẵn.”

Ngừng một chốc, lão lại nói:

“Công chúa bây giờ là thân lá ngọc cành vàng, vạn kim chi khu, ra nơi mũi tên lưỡi mác đã là chuyện trên không thuận tình dưới không hợp lẽ. Nếu như mặc đại một bộ giáp mà lên chốn sa trường... mỗ không dám nói gở, cũng không dám nghĩ quẩn. Thế nhưng thánh thượng chặt đầu mỗ, mỗ cũng không dám để công chúa vận một bộ giáp kém lên chiến trường.”

Đặng Tất khẽ rên, rồi nói:

“Bẩm thánh thượng, trong quân của thần có nhiều công tượng, cam đoan trong nửa tháng có thể làm xong bảo giáp, dâng cho công chúa.”

Lão biết, nếu để Nguyễn Quỹ cướp được công việc chế tạo chiến giáp cho Trần Yên Chi thì thể nào lão cũng bôi việc ra, dầm dề mấy tháng, cốt để trễ nải chuyện đánh ra bắc.

Mà lão, thì vì người ta đã “nhượng bộ” giản lược hết thảy lễ nghi thủ tục sắc phong công chúa cho Trần Yên Chi, nên chỉ có cách ngậm bồ hòn làm ngọt.

Nguyễn Quỹ nói:

“Đâu dám phiền đến công tượng của quốc công? Bây giờ vừa mới đại chiến, tên bắn cạn, kiếm gãy đôi, cán thương mũi giáo đều cần phải tu sửa bổ sung. Nếu bây giờ còn phân một đội ra làm áo giáp cho công chúa há chẳng chậm trễ việc bắc phạt?”

Đặng Tất cười:

“Những chuyện ấy thì thợ kém cũng làm được. Chỉ cần cư sĩ cho mỗ mượn hai ngàn công tượng, mỗ đảm bảo nửa tháng sau có thể tiếp tục xuất binh.”

Hai bên giả lả, người lừa ta gạt.

Ngoài miệng câu nào cũng nói đến bắc phạt, đến đại nghĩa quốc gia, vì dân vì nước.

Trong bụng kẻ nào kẻ nấy đều chỉ chăm chăm thực hiện mưu đồ cá nhân.

Cuối cùng, Trần Ngỗi dùng biện pháp hòa giải, mỗi bên nhượng bộ một bước.

Chuyện khải giáp giao cho Nguyễn Quỹ, hẹn lão trong một tháng phải hoàn thành.

Việc chuẩn bị bắc phạt thì giao cho Đặng Tất, Nguyễn Cảnh Dị, ấn định ngày xuất binh là đầu tháng hai.

Quân Trần nghỉ lại Hoa Lư – Cổ Lộng một tháng, hưu binh dưỡng tướng, khôi phục chiến lực, chuẩn bị tiến công ra bắc. Mà Trần Ngỗi và các quan thì rút qua sông, về thành Hoa Lư. Đặng Tất và chư tướng đóng ở Cổ Lộng, coi đó là tiền tuyến.

Lão vừa nói dứt câu, thì Nguyễn Đông Thanh đã thấy ngực nghẹn chặt như có đá đè. Mặt hắn đỏ bừng, cổ họng tanh tanh ngọt ngọt, sau đó nôn ra một búng máu to.

“Bá hộ.”

“Thanh!”

Người phản ứng trước nhất là Trần Yên Chi.

Theo sát sau, là hai người Lê Lợi, Nguyễn Trãi.

Kế đó, là đám Bùi Bị, Lê Lai, Nguyễn Xí, Bùi Quốc Hưng cũng đều xúm lại. Đám người Phạm Thanh, Lê Tiệt, Lê Nguyên Đỉnh tuy cũng giả lả quan tâm, nhưng trong đôi mắt không giấu được vẻ mừng rỡ. Cánh Đặng Dung, Trần Nguyên Hãn lại dùng ánh nhìn quan hoài nhìn Nguyễn Đông Thanh, chỉ sợ việc gã đổ bệnh sẽ ảnh hưởng đến chuyện tiến quân ra bắc.

Hành khiển, phò mã Nguyễn Đông Thanh phun máu giữa sân rồng, khiến buổi luận công hành thưởng của Hậu Trần kết thúc trong hỗn loạn.

***

Phủ Nguyễn Quỹ...

Lão tuy không có quan chức chính thức, thế nhưng thân là lãnh tụ của hào môn vọng tộc Hoa Lư, danh tiếng đặt ở đó. Cho dù là đi tới đâu, phủ đệ của lão vẫn là hào hoa bề thế nhất.

Nguyễn Quỹ co chân ngồi trên phản, miệng nhấp trà...

Bên dưới, Phạm Thanh cầm roi mây đặt ngang lông mày mà quỳ.

Nguyễn Quỹ lấy trà ngon súc miệng, rồi mới hỏi:

“Biết tin đồn tối qua từ đâu phát ra chưa?”

“Thưa bác, cháu đã truy tra cẩn thận, người truyền tin cho chúng ta là Nguyễn Trãi...”

“Ít ra còn biết mình bị kẻ khác lợi dụng, không đến mức cần phải làm tốt thí.”

Nguyễn Quỹ nói xong, nhổ toẹt một ngụm nước bọt xuống đất, lầm bầm. Lão đứng dậy, vươn vai, nói:

“Nhìn thái độ hôm nay của Đặng Tất, xem chừng cái tài thiên lý nhãn của Nguyễn Đông Thanh là thật.”

Phạm Thanh lầm bầm:

“Trên đời thật sự có người ngồi một chỗ mà biết việc thiên hạ sao?”

“Có. Ít nhất tai mắt của chúng ta dò la được Nguyễn Đông Thanh này chỉ nhìn soái kỳ chữ Liễu đã nói vanh vách Liễu Thăng là danh tướng. Đồng thời, chuyện hắn khẳng định chắc nịch trước ba quân có thể dùng lời lẽ khuyên lui được Mộc Thạnh cũng là chuyện không khó để nghe ngóng.”

Nguyễn Quỹ đáp, rồi hỏi:

“Giờ thì hiểu vì sao Nguyễn Trãi cố tình đưa tình báo này cho chúng ta rồi chứ?”

“Hắn... muốn bảo vệ Nguyễn Đông Thanh?”

“Đúng. Hôm nay để ta dạy cháu thêm một bài học. Nếu Nguyễn Trãi chỉ nói cho một mình Đặng Tất, tức là hắn muốn mượn đao giết người. Đặng Tất cũng sẽ nghe lời khuyên của hắn, lợi dụng toàn bộ giá trị của Nguyễn Đông Thanh để bắc phạt rồi mới diệt khẩu. Nhưng nếu tản lời đồn này cho chúng ta, cho hoàng thượng, vậy thì lại có tín hiệu khác. Hắn cho chúng ta biết có một nhân tài có thể mời chào.”

“Thánh thượng phong Nguyễn Đông Thanh làm hành khiển phải chăng cũng là có ý mời chào?”

“Là mời chào... hay là mượn đao giết người... ai mà biết được? Phải biết vị hoàng thượng này của chúng ta và Đặng Tất đều là người kinh lộ. Phải biết... mật ngọt chết ruồi. Nhiều khi thăng quan cho cháu là để mượn tay người khác lấy đầu của cháu.”

dã sử Thuận Thiên Kiếm (tiểu thuyết) Xuyên Không Lam Sơn
Còn lại: 5
0%