Vì sao lại dìm Trịnh Khả:
Trong Đại Việt Thông Sử, phần nhân vật, Lê Quý Đôn có chép lại một đoạn “truyền thuyết”, đại ý như sau về Trịnh Khả:
Khả là con của một chánh tổng vùng Thanh Hóa, tổ tiên làm quan đời Trần. Về sau, Khả chăn trâu bị một tên tướng Minh thấy được, trông mặt mũi ưa nhìn bèn bắt về làm nô lệ. Sau, cũng chính tên tướng giặc này xem tướng cho Khả, mà nói:
“Thằng này mình rồng mắt hổ, khỏe nhất ba quân, sau ắt cầm cờ mao tiết.”
Rồi lại bảo:
“Sau đuổi bọn tao đi ắt là mày, phải giết đi để trừ hậu họa.”
Kế cho quân vây bắt Trịnh Khả.
Khả bằng một cách thần kỳ đơn thương độc mã chạy trốn khỏi thành Tây Đô, qua sông Mã trốn ở nhà người họ hàng. Tướng giặc bèn bắt cha Trịnh Khả, ép gã phải ra mặt. Nhưng Khả không chịu đến, quân Minh bèn giết người thả xác xuống sông, để cho Khả vớt về.
Vì chuyện này mà Khả căm thù quân Minh, tìm đến Lam Sơn theo Lê Lợi khởi nghĩa.
Nghe qua thì cảm động, nhưng nếu xét kỹ, câu chuyện này có quá nhiều điểm khả nghi:
- Thứ nhất, là việc con trai của một quan chánh tổng lại phải đi chăn trâu, để rồi bị tướng Minh bắt làm nô lệ.
- Tên tướng Minh này, lúc đầu bắt Khả về thì phép xem tướng giống như mất linh, về sau lại đột nhiên thông thạo. Cứ như thể có người muốn mượn miệng của tên tướng này để khen Khả.
- Chuyện về sau càng vớ vẩn hơn. Một tên tướng muốn giết người mà lại bô bô cái mồm ra nói ngay trước mặt Khả, để gã có thời cơ trốn sang sông. Trịnh Khả dựa vào cách nào mà có thể vượt qua vô số quân lính đồn trú trong thành Tây Đô – một trọng điểm quân sự, vượt qua sông trốn về nhà bà con thì trời mới biết.
- Sau khi Khả trốn, quân Minh bèn cho bắt Trịnh Quyên, muốn ép Khả xuất hiện, thế nhưng gã không chịu thò mặt ra. Thế là tướng Minh bèn giết Trịnh Quyên, còn tri kỷ thả xác xuống sông cho Trịnh Khả được vớt về mai táng.
- Việc của Trịnh Quyên, tác giả lại càng cảm thấy khó hiểu. Quân Minh thay vì phục ở gần nhà, chờ Khả về rồi bắt, thì lại rêu rao khắp nơi.
=> Cả câu chuyện, chỉ có nhân vật Trịnh Khả là tương đối bình thường, tất cả những người còn lại thì... nói theo ngôn ngữ hiện đại, đều như tạm thời bị “hào quang nhân vật chính” của Khả hút tụt hết mất toàn bộ IQ.
Ở đây, bỏ qua lọc kính lý tưởng hóa của sử Nho giáo, thì có hai giả thuyết có thể lý giải nguồn gốc của câu chuyện này:
- Dân địa phương, hoặc con cháu họ Trịnh cố tình sáng tạo ra truyền thuyết này để đánh bóng tên tuổi cho một người nổi tiếng xuất thân ở xứ mình/cho cha ông.
- Chính Trịnh Khả sử dụng sức ảnh hưởng từ người cha làm chánh tổng, tạo ra câu chuyện này để nổi danh, trải đường làm quan cho mình.
Về mặt sử học, hai khả năng trên đều khả dĩ, không có đủ tư liệu để bác bỏ hoàn toàn khả năng nào. Nhưng tác giả chẳng phải sử gia, mà là người viết tiểu thuyết, Thuận Thiên Kiếm cũng không phải công trình nghiên cứu học thuật mà là tiểu thuyết dã sử hư cấu, thế nên lựa chọn khả năng thứ hai để xây dựng tình tiết. Từ đó, mà một Trịnh Khả mua danh chuộc tiếng xuất hiện.
Ai có vấn đề với cách hiểu này, hoặc không thích, thì có thể tự viết một bộ xây dựng tình tiết xoay quanh khả năng đầu tiên.
Thực ra hành vi này không lạ, nó xảy ra xuyên suốt chiều dài lịch sử cả Trung Quốc lẫn Việt Nam, là thủ đoạn thường thấy của Nho giáo. Trong truyện, Lê Văn Linh cũng sử dụng chiêu này để nổi danh, chế tạo ra truyền thuyết dùng văn đuổi hổ học theo Hàn Dũ đuổi cá sấu. Mà thực tế, thì Đại Nam Nhất Thống Chí cũng có chép chuyện này, nên cũng xảy ra hai khả năng tương tự như trường hợp của Trịnh Khả.
Chính sử là gì?
Từ Cương Mục đến Sử Ký, từ Thông Sử đến Sử Lược, có một điểm chung: chúng đều là chính sử – tức là lịch sử được viết và chấp nhận bởi chính quyền đương thời.
Chính quyền phong kiến đại diện cho ai, có lẽ không cần phải nói thêm.
Nếu coi những văn bản ấy là “khuôn vàng thước ngọc”, là chân lý tuyệt đối, thì chẳng khác nào tự nhồi sọ bằng tuyên truyền chính trị của vài trăm năm trước, bỏ không cả tinh thần phản biện của sử học hiện đại.
Lịch sử là một ngành khoa học.
Và việc coi một văn bản được viết bởi những con người có thiên kiến giai cấp, động cơ chính trị và lợi ích cá nhân là chân lý bất khả nghi vấn là một thái độ phản khoa học.
Nguyễn Trãi – một nhân vật khá đặc biệt:
Nguyễn Trãi là nhân vật phức tạp hơn rất nhiều.
Ông là cháu ngoại Trần Nguyên Đán, người vừa là tông thất nhà Trần, nhưng cũng vừa là đại thần Nho giáo, từng chủ trương “kính Minh như cha” để cầu an. Di sản chính trị của Trần Nguyên Đán chia làm hai nhánh:
- một nhánh cho dòng họ Trần (tiêu biểu là Trần Nguyên Hãn),
- một nhánh cho giới sĩ phu kinh lộ, được truyền lại ở Côn Sơn, và về sau Nguyễn Trãi kế thừa.
Xét về xuất thân, Nguyễn Trãi là kẻ sĩ kinh lộ. Nhưng trong Bình Ngô Đại Cáo, ông lại đứng ở vị trí đối lập với chính tầng lớp đó:
- Ông lên án tội ác khai thác thuộc địa của quân Minh, nhưng không biến họ thành “ác quỷ vô não”.
- Ông chửi thẳng giới sĩ phu kinh lộ là “ngụy đảng hoài gian, mãi quốc” – lời lẽ nặng hơn hẳn Ngô Sĩ Liên.
Điều này cho thấy Nguyễn Trãi đứng về phía Lê Lợi với tư cách bảo hoàng, không phải đại diện cho sĩ lâm Bắc Hà.
Chính vì thế, vị thế chính trị của Nguyễn Trãi cực kỳ lúng túng:
- phe Thanh – Nghệ không muốn để một người kế thừa di sản Trần Nguyên Đán nổi danh;
- phe kinh lộ lại không thể tha thứ cho kẻ “phản bội” tầng lớp mình.
Điều này lý giải sự đứt gãy hình ảnh của Nguyễn Trãi trong sử sách: một Nguyễn Trãi được đọc toàn bộ quân cơ bí mật của Lê Lợi, và một Nguyễn Trãi về sau chỉ còn lại những lời đạo lý sáo rỗng.
Trong khi nhiều công thần xuất thân kinh lộ bị thanh trừng, Nguyễn Trãi lại sống sót, hưởng dương thẳng cho tới khi Lê Lợi băng hà, dù phong thưởng thấp – rất có thể đây là cách Lê Lợi bảo vệ tâm phúc, chứ không phải là trừng phạt.
Vì vậy, Thuận Thiên Kiếm xây dựng Lê Lợi – Nguyễn Trãi như một cặp chủ – thần tri kỷ, trong đó Nguyễn Trãi là cánh tay phải thực sự, chứ không phải hình tượng méo mó trong Nho sử.
***
Sông reo cuồn cuộn bóng chiều lan,
Muôn dặm anh hùng hóa khói tàn.
Trang giấy lưu hoài bao chuyện cũ,
Thật hư ai tỏ giữa nhân gian?