Tiểu Thuyết Dài Kỳ: Thuận Thiên Kiếm - Chương 44: Trên điện, Đông Thanh nói Mộc Thạnh

Ảnh đại diện
Nghịch Tử Chuyên gia

Nguyễn Quỹ nói:

“Mỗ tự xưng Mộng Trang cư sĩ, sống mòn ở đời đến nay cũng sáu mươi cái mùa hoa nở hoa tàn. Thế nhưng hôm qua đọc chiến báo, mỗ nghĩ nát óc, bạc đầu cũng không đoán được thái học sinh rốt cuộc đã dùng lời vàng, ý ngọc nào mà có thể khuyên Thạnh lui binh.” 

Nguyễn Đông Thanh hít một hơi, không đáp mà hỏi ngược:

“Vì sao tiên sinh cho rằng Mộc Thạnh lui binh là sai?”

Nguyễn Quỹ đáp:

“Bá hộ chớ cười mỗ không biết binh. Tuy chưa ra trận, nhưng ngày thường Quỹ cũng có đọc vài quyển binh pháp. Theo mỗ thấy, khi đó nếu Thạnh hoặc cố thủ không ra, hoặc đánh xuyên chiến trường hội họp cùng Thăng, thì địch có kỵ binh mạnh mẽ, không phải không có cơ hội xoay chuyển thế cục chiến trường. Thế nhưng thái học sinh đơn thân độc mã, chỉ dẫn một tướng theo cùng, vào Cổ Lộng mà nói lui được Mộc Thạnh, Quả thật... khiến người ta không hiểu nổi.”

Nguyễn Đông Thanh nhún vai, không đáp vội, mà dùng ánh mắt quét một vòng trong sân.

Quan lại bắc hà trừ Bùi Quốc Hưng, đều đang dùng ánh nhìn thăm dò nhìn hắn.

Quan lại xuất thân Tràng An – Hoa Lư, hầu như không ai mà không nhìn hắn như muốn ăn sống nuốt tươi. Đám Lê Tiệt, Lê Nguyên Đỉnh, Đỗ Cối, Nguyễn Hiêu mặt trầm như nước. Phạm Thanh xoa bàn tay vào nhau, trán nổi đầy gân xanh.

Bấy giờ, Nguyễn Đông Thanh học thêm được một đạo lý nữa...

Trên chiến trường, đao kiếm cung tên hữu hình. Chết dưới tay địch. Chết dưới sự chà đạp của loạn quân. Ít ra, còn có thể chết rõ ràng minh bạch.

Trên chính trường, câu chữ đoạt mạng trong vô hình. Một khi không cẩn thận, tất phải vong mạng dưới tay “đồng minh”, trở thành đá đặt chân của phe cánh đối lập.

Quan trường như chiến trường...

Có lẽ hai từ “chiến trường” cũng không đủ để miêu tả hết những cái hung hiểm, ác liệt của bàn cờ chính trị.

Bấy giờ, trong số quan lại Hoa Lư không ít kẻ lên tiếng:

“Đúng thế. Mộng Trang cư sĩ nói rất phải.”

“Hôm nay thái học sinh ắt phải cho thánh thượng, cho lão tiên sinh, cho chúng ta một câu trả lời.”

“Nói không chừng Nguyễn Đông Thanh vào Cổ Lộng, bị Mộc Thạnh mua chuộc, quay lại làm nội gián.”

“Thỉnh thánh thượng đèn trời xét soi, đừng để kẻ này lừa gạt. Chúng thần cúi xin thánh thượng chém Nguyễn Đông Thanh, trọng chỉnh kỷ cương phép nước, giết một răn trăm.”

Những âm thanh buộc tội hùa theo Nguyễn Quỹ cất lên.

Nhìn khắp văn võ...

Kẻ nào kẻ nấy ngoài miệng treo đầy chủ nghĩa, lý tưởng, trong bụng rặt toàn là lợi ích.

Là nội đấu.

Là đảng tranh.

Nguyễn Đông Thanh nắm chặt bàn tay, nhớ lại mảnh giấy hôm qua Nguyễn Trãi bí mật dúi cho hắn.

Đến nước này, hắn cũng dần hiểu được logic của quan lại thời này.

Trong mắt quan lại Hoa Lư – Tràng An...

Đặng Tất dẫn một đám tướng tá, quan lại xuất thân bắc hà đòi đánh ra bắc, đặt đô ở Thăng Long, ý đồ lần nữa gạt bọn họ ra ngoài hạch tâm của chính quyền. Đó chính là thù hận không đội trời chung.

Mà đám người Lê Lợi, Lê Sát, Trương Chiến cũng không phải đồng minh.

Bọn hắn chủ trương thuyết phục Trần Ngỗi định đô ở Hoa Lư, Trần Ngỗi lại không thể không thưởng cho những tướng tá có quân công như phái Hóa Châu, Hoan Châu, Diễn Châu.

Tiền, lụa, vàng bạc là một nhẽ...

Quan trọng nhất, là đất, là ruộng.

Đất ruộng vùng Hoa Lư, Tràng An vốn không rộng rãi trù phú bằng đất kinh lộ. Các hào cường, vọng tộc đất này chia nhau còn bõm bẽm chưa đủ no, đâu có thừa đất mà chia cho kẻ khác?

Nếu phe ba châu phía nam Hoan Hóa Diễn vào triều đình, đồng nghĩa với dành miếng ăn với bọn họ.

Có xung đột lợi ích, tất nhiên là không thể ở chung hài hòa.

Tất nhiên, nói vậy không có nghĩa là người Hoa Lư – Tràng An là xấu, mà quan lại Thanh Hóa, kinh lộ là tốt cả. Tư tưởng bài ngoại này là vấn đề mang tính giai cấp, chứ không phải là địa lý.

Đổi lại mấy năm trước, kẻ sĩ bắc hà vì muốn ngăn Hồ Quý Li dời đô, trọng dụng người vùng Hoan Châu, Hóa Châu, Diễn Châu, cắt bớt đất ruộng của chúng mà sẵn sàng mời quân Minh vào, quan lại nháo nhác phản chiến, theo quân Minh cả mấy ngàn người.

Đến mấy năm sau, Lê Sát Lê Ngân được thế, cũng sẽ vu cáo hãm hại quan lại vùng khác, dễ bề tiêu diệt kẻ thù chính trị của mình, độc chiếm quyền to.

Tất nhiên, trong bụng tính toán thanh toán lẫn nhau, đảng tranh nội đấu...

Nhưng mặt ngoài vẫn phải hô vang khẩu hiệu trung quân ái quốc, lòng dạ sắt son.

Trung quân... việc ấy đã hẳn.

Nhưng là trung với Trần Ngỗi, hay với một chế độ đảm bảo đặc quyền, đặc lợi của bọn họ thì còn phải xem lại.

Nguyễn Đông Thanh chờ cho tiếng chửi mắng đã vãn, mới hắng giọng:

“Các vị. Ta biết, lấy góc nhìn của Nho gia, sĩ tộc, các vị hoàn toàn không hiểu được vì cớ gì Mộc Thạnh lại lui quân. Nhưng Thanh chẳng qua là một tên nhà giàu, xuất thân thương nhân. Trong mắt của ta, chỉ nói hai chữ ‘lợi’ và ‘hại’, không bàn đến đại nghĩa.”

Câu nói này của Nguyễn Đông Thanh chẳng khác nào một tiếng sét đánh giữa trời, khiến tất cả mọi người đều ngẩn ra một lượt.

Không phải do hắn nói sai, mà là do nói quá thẳng...

Trong một xã hội vua diễn vai minh quân, thần diễn vai trung thần, tất cả mọi người đều đang làm diễn viên như xã hội phong kiến, kẻ dám nói thẳng hai chữ “lợi ích” như hắn không nhiều.

Có nhà Nho nói “thiên hạ rộn ràng đều vì lợi mà hợp, thiên hạ nháo nhác đều vì lợi mà tan” hay không?

Có...

Nhưng về sau, ấy cũng là câu để Nho sinh treo nơi cửa miệng, để Nho sinh phê phán, trách móc những kẻ khác mà thôi. Thương nhân hám lợi. Nông dân, công tượng đều ham lợi nhỏ mà chẳng nghĩ xa.

Lập tức, tiếng phản bác, chửi bới cất lên lồng lộng...

Có kẻ mắng Nguyễn Đông Thanh li kinh bạn đạo...

Có người chửi Nguyễn Đông Thanh phỉ báng thánh hiền...

Cũng có người nói Nguyễn Đông Thanh có tài không có đức, đức không xứng với vị, thỉnh cầu Trần Ngỗi trừng phạt hắn.

...

Nguyễn Đông Thanh cũng không phí thời gian đôi co với những kẻ này. Gã chỉ cúi đầu một cái, nói:

“Chư vị, nếu không muốn nghe, thì có thể tự về nghĩ tiếp.”

Nói đoạn phủi tay áo.

Nguyễn Quỹ nheo mắt, hắng giọng:

“Im miệng! Thái học sinh đâu phải người thường? Há lại có thể sử dụng cách nhìn thế tục để mà luận đúng sai? Thái học sinh cứ việc nói...”

Đám người đang kích động nghe thấy Nguyễn Quỹ đã lên tiếng, bèn ngậm tăm.

Nguyễn Đông Thanh mới nói:

“Chuyện cũng không có gì. Thanh nghe nói Mộc Thạnh trấn giữ Vân Nam, có xu thế cầm quân tự lập, chẳng khác nào một đường chư hầu. Thế nên, sức mạnh của lão đến từ binh lính trong tay, chứ chẳng phải ban thưởng của Chu Đệ.”

Ngừng một chốc, gã lại hỏi:

“Nếu tiên sinh là Mộc Thạnh, tiên sinh sẽ liều mạng đánh với chúng ta sao? Tại hạ đến Cổ Lộng, chỉ nói với Mộc Thạnh nếu lão xuất binh tất sẽ khiến Mộc gia quân trọng thương, mười phần chết chín. Mộc Thạnh cân nhắc đến chuyện Chu Đệ sẽ không để lão chiêu mộ tân binh, gộp cho đủ số binh lực cũ, nên mới rút lui. Tất nhiên, trước khi đi, Mộc Thạnh cũng yêu sách đòi một số lớn tiền tài, lương thực. Chi phí này Thanh không dám tự động tới quốc khố, chỉ đành xin chủ ta tạm thời chi trả trước. Vốn định hôm nay sẽ bẩm tấu với thánh thượng.”

Trần Ngỗi bấy giờ đột nhiên đổi giọng, cười dài:

“Nguyễn ái khanh nói lời ấy sai rồi. Khanh là Vô Học Thái Học Sinh do đích thân trẫm sắc phong, có cần tiền lương để đối phó với Mộc Thạnh cũng nên do trẫm chi. Sao lại cần phải nhờ đến Kim Ngô tướng quân?”

Nguyễn Đông Thanh biết câu này lão nói ý ở ngoài lời.

Ngoài mặt, là biểu hiện ra sự độ lượng rộng rãi của mình, quyết không để tướng lĩnh dưới tay phải chịu thiệt.

Trong âm thầm, là đang cố tình đào người, muốn cướp Nguyễn Đông Thanh về làm việc cho lão.

Đặng Tất trông thái độ của Trần Ngỗi khác thường, ánh mắt lập tức nhìn về phía Nguyễn Trãi. Người sau bấy giờ bình chân như vại, đôi lông mày bạc phếch hơi dãn ra, đứng ngửa mặt đón nắng ấm.

Nguyễn Quỹ thì im lặng không dáp, thỉnh thoảng lại nhìn Trần Ngỗi và Đặng Tất, không rõ trong đầu đang có tính toán gì.

Trần Ngỗi lại tiếp:

“Nguyễn thái học sinh đơn thân độc mã vào Cổ Lộng, can đảm hơn người. Dùng ba tấc lưỡi mà đuổi được Mộc Thạnh, hạ được thành cứng mà không phí một mũi tên hòn đạn, trí trùm thiên hạ. Ngày xưa thời Tần Hán có Lịch Sinh chắc cũng chỉ đến thế. Nay trẫm gia phong làm Nhập Nội Hành Khiển, đồng Bình chương sự. Các khanh có gì muốn tâu?”

Nguyễn Đông Thanh mặt nhăn như đớp phải ớt hiểm. Nếu câu nói trước đó của Trần Ngỗi chỉ là ám chỉ, thì nước đi phong quan này của lão lại là kế li gián trần trụi.

Lê Lợi là một chức Kim Ngô tướng quân, nói trắng ra là một tướng quân tạp hiệu, so ra thì thua xa những chức danh có địa vị như Xa Kị, Phiêu Kị, đại tướng quân.

Mà chức Nhập Nội Hành Khiển của Nguyễn Đông Thanh hiện giờ...

Tương đương với á tướng.

Ngô Sĩ Liên từng chép trong Đại Việt Sử Ký Toàn Thư:

“Theo quy chế nhà Trần, các vương hầu đều ở phủ đệ nơi hương ấp của mình, khi chầu hầu thì đến kinh đô, xong việc lại về phủ đệ. Như Quốc Tuấn ở Vạn Kiếp, Thủ Độ ở Quắc Hương, Quốc Chẩn ở Chí Linh đều thế cả. Đến khi vào triều làm Tể tướng, mới thống lĩnh việc nước. Nhưng cũng chỉ nắm đại cương thôi, còn quyền thì thuộc về Hành khiển. Người khinh lại thành trọng, người trọng lại thành khinh, mà không phải lo thêm một tầng công việc, cũng là có ý bảo toàn vậy.”

Cũng có nghĩa, hành khiển là quan có thực quyền, quyền hạn thực sự còn cao hơn tể tướng.

Nguyễn Đông Thanh nuốt nước bọt, không ngờ Trần Ngỗi dám ra cái giá tiền lớn đến thế chỉ để chia rẽ hắn và Lê Lợi.

dã sử Thuận Thiên Kiếm (tiểu thuyết) Xuyên Không Lam Sơn
Còn lại: 5
0%