Nguyễn Trãi cười, hỏi:
“Ý cậu Linh là sao? Cớ gì lại nói là... thành bại khó nói?”
“Khó nói vì thành bại của trận này nằm cả ở lực hiệu triệu của Đặng Tất. Nếu y mời chào được các vọng tộc, địa chủ, thổ hào mấy vùng Lạng Giang, Tam Giang, lúc đó có lính có lương thì đương nhiên là dễ nói chuyện. Nhược bằng không, thì toàn bộ chuyện tiếp tế đều phải đi qua nút thắt Gián Khẩu. Đến lúc đó... phe Hoa Lư có quá nhiều không gian để giở trò.”
Lê Văn Linh nói đến đây, lại nâng chén rượu nhạt lên nhìn trăng, thở dài một hơi.
Nguyễn Trãi cười:
“Nghe quân một buổi, hơn đọc sách mười năm.”
“Anh Trãi đừng nói vậy, khen chết tại hạ mất.”
“Nào có? Nào có?”
Trong lúc hai người kia còn đang khách sáo ngoại giao với nhau thì Nguyễn Đông Thanh đã há hốc cả mồm. Hắn không ngờ... hóa ra Đặng Tất không tấn công Cổ Lộng còn có một nguyên do gai người như vậy.
Không phải vì quân địch...
Mà lại là để đề phòng phe cánh Hoa Lư trở nên quá mạnh.
Và Nguyễn Đông Thanh, mang theo ưu thế tiên tri, đã khuyên lùi Mộc Thạnh rút khỏi chiến trường, nhường lại Cổ Lộng cho quân Hậu Trần. Chỉ một thay đổi nhỏ, nhưng cũng đã đủ khiến chính trường trong triều đình Trần Ngỗi cơ hồ nổi cơn ba đào.
Bấy giờ, Nguyễn Trãi chợt nói:
“Anh Linh hôm nay ban những lời này cho Trãi ắt hẳn không phải để nói chuyện suông. Dám hỏi, anh có ý gì?”
Lê Văn Linh đáp:
“Quả thật là vải thưa khó che mắt thánh, tài học thô thiển của mỗ chẳng giấu nổi anh. Sau trận Gián Khẩu, mỗ thấy Lam Sơn tuy binh thiếu, nhưng tướng lĩnh đều có sức của hổ xám, trí mưu lại có anh Trãi và Nguyễn thái học phò tá, thiết tưởng chẳng khác nào rồng cuộn mình. Chỉ chờ cơn phong vân biến đổi là có thể lượn chín tầng trời. Linh tham một cái công tòng long, cũng muốn theo phò tá. Xin anh Trãi mở lời giới thiệu, dẫn tiến một phen với chúa công, mỗ xin hết lòng cảm tạ.”
Nguyễn Trãi cười:
“Anh Linh nói thế sai rồi. Bây giờ Lam Sơn chúng ta như cây cao đón gió bão, thuyền nhỏ giữa cơn dông, bấp bênh bất ổn. Có câu quân tử không đứng dưới bức tường sắp sập, chủ tôi có tài gì đức gì mà dám làm lỡ dở bậc hiền tài như anh?”
“Anh Trãi nói đùa, nếu quân tử không đứng dưới bức tường đổ, cớ sao anh còn chưa rời đi?”
“Thực chẳng dám giấu, kẻ sĩ chết cho người tri kỉ. Trãi tuy chưa chính thức nhập sĩ, nhưng cũng hiểu cái đạo lý của Dự Nhượng vậy.”
Lê Văn Linh nghe vậy, bèn nói:
“Hay cho câu ‘kẻ sĩ chết cho người tri kỉ’. Không biết Nguyễn thái học nghĩ sao?”
Nguyễn Đông Thanh bị hỏi bất ngờ. Thế nhưng, hắn cũng không hoàn toàn là thằng ngu. Vừa rồi nghe Nguyễn Trãi nhắc “kẻ sĩ chết vì người tri kỷ”, bây giờ lại bị Lê Văn Linh điểm danh, hiển nhiên là thằng cha họ Lê không có ý gì tốt.
“Nhân chuyện Dự Nhượng, Thanh lại muốn hỏi anh Linh một câu.”
“Mời bá hộ cứ nói.”
“Thanh từng đọc Sử Ký, biết chuyện Dự Nhượng đâm Triệu tương tử. Dám hỏi anh Linh rằng trong chuyện này ai là người được lợi nhất?”
Lê Văn Linh nghe gã nhắc đến chuyện “lợi – hại” thì nhíu mày, song vẫn bảo:
“Trí Bá Dao bị bêu đầu làm đồ đựng rượu, Triệu tương tử phải giết người hiền, cũng không thể nói là tốt. Dự Nhượng danh tiếng nghìn đời còn ghi, nhưng vì trả thù mà hủy dung nuốt than, kể cũng đau khổ. Nguyễn thái học xuất thân thương nhân, đến giờ tầm mắt vẫn chỉ biết lợi và hại mà chẳng hiểu cái nghĩa, nói thật thì hơi thiển cận.”
Nguyễn Đông Thanh lắc đầu:
“Sai. Kẻ được lợi nhất chính là hào tộc. Một câu chuyện nhớ ngàn đời, một cái gông đeo hàng ngàn ngàn vạn vạn người dân, một Dự Nhượng mà cổ vũ để tạo ra hàng vạn Dự Nhượng. Ấy là cái đáng sợ của Sử Ký. Còn như ông Tư Mã Thiên sống sau Dự Nhượng đến hàng ba trăm năm, sao biết lúc sinh thời Nhượng nói gì? Chẳng nói đâu xa, anh Linh dám bảo sách sử nước Minh có thể viết tử tế về chúng ta sao? Hoặc giả... nếu Đặng Tất thắng, sử đời sau còn không bêu riếu chúng ta sao?”
Lê Văn Linh bị nói á khẩu, mặt đỏ lựng.
Không phải gã không biết những chuyện này.
Mà là vì, chính bản thân gã cũng là người được hưởng lợi từ câu chuyện Dự Nhượng.
Dự Nhượng thân là kẻ sĩ, câu chuyện này vốn là có tính hai chiều. Vừa muốn dân chúng hiểu cái lẽ “trung thành”, cái tôn ti “chủ - thần”, lại vừa nhắc khéo những Trần Ngỗi, những Lê Lợi rằng phải đối xử tôn trọng, cho quyền cho tiền những kẻ sĩ đến nhờ vả thì sau này mới có Dự Nhượng để dùng.
Về phần thật hay giả...
Cần gì phải biết?
Nho gia nói là thật... vậy thì là thật. Những kẻ khác muốn phản bác? Biết chữ sao? Biết nói đạo lý sao? Có hàng hà sa số danh gia, thánh hiền để viện dẫn, trích tầm sao?
Không có?
Thế thì... không còn gì để nói.
Chuyện Dự Nhượng... đạo lý này ai cũng hiểu, nhưng trong vòng tròn quan hệ hào tộc, kẻ sĩ, ai lại nói toạc móng heo ra như Nguyễn Đông Thanh?
Nguyễn Đông Thanh nhún vai:
“Vậy là anh Linh biết đáp án của mỗ rồi.”
Lê Văn Linh phất áo, nói:
“Chư vị, mỗ hôm nay theo quân hơi mệt, lại uống nhiều rượu, không thể hầu chuyện thêm, mạn phép về trước.”
Trịnh Khả còn đang đàn đúm với cánh võ tướng, thấy thế cũng vội vàng đi theo.
Trương Lôi, Trương Chiến, Lê Sát, Lê Ngân cũng rục rịch đứng lên, chắp tay từ tạ bọn Lê Lợi. Duy chỉ còn Bùi Quốc Hưng ở lại. Gã cầm bát rượu, lèm bèm nói:
“Mọi người... phải cẩn thận... đấy...”
Đoạn, gã cũng đứng lên. Lê Lợi sai Lê Lai dẫn gã về.
Trong sân, chỉ còn lại chủ thần Lam Sơn.
Nguyễn Trãi cười phá lên, ôm bụng:
“Đúng là chỉ có bá hộ Nguyễn mới dám nói toạc ra như vậy.”
Lê Lợi nói:
“Bá hộ Nguyễn, cứng cỏi là tốt, nhưng cậu cũng nên hiểu cái đạo mềm dẻo hơn.”
Nguyễn Đông Thanh khịt mũi:
“Nhưng...”
“Biết. Lê Văn Linh nhắc chuyện Dự Nhượng là muốn dùng đạo nghĩa bắt cóc bá hộ, ép cậu hi sinh giải quyết mối nguy của Lam Sơn. Mà kẻ hiến kế là hắn thì nghiễm nhiên thay thế địa vị của cậu.”
Nghe Nguyễn Trãi nói, Nguyễn Đông Thanh mới thảng thốt phát giác...
Té ra, lúc hắn còn đang ngồi gắp thịt ngựa ăn lia lịa, thì người ta đã nghĩ cách lôi hắn ra làm đá kê chân.
Mà quả thật, Nguyễn Đông Thanh dựa vào đối thoại của hai người Nguyễn Trãi, Lê Văn Linh mà đoán bừa kẻ sau muốn hại gã thôi, chứ đâu có nghĩ được sâu xa đến thế?
Nguyễn Trãi bấy giờ lại đổi giọng:
“Tuy nhiên... lời hắn nói cũng là thật. Chúa công, cây cao thì đón gió. Nay phái Hoa Lư muốn nhắm vào chúng ta, đổ vấy trách nhiệm bại trận, chối tội ở bến Bô Cô. Mà Đặng Tất đương nhiên cũng sẽ không trơ mắt để yên, dù sao chúng ta chiếm thành Cổ Lộng, đảo loạn tính toán của lão. Lão hẳn là cần... một liều thuốc bức bách Trần Ngỗi tiến công.”
Lê Lợi mặt lạnh như tiền, vỗ bàn:
“Chuyện này dừng ở đây thôi! Đừng nói nữa!”
Nguyễn Đông Thanh rùng mình, hỏi:
“Chờ đã! Anh Trãi... đám người Phạm Thanh cần hất nước bẩn vào chúng ta để chạy tội thì tôi hiểu, nhưng vì sao Đặng Tất cũng muốn tát nước theo mưa?”
Lê Lợi chua chát:
“Như cậu nói đấy... tát nước theo mưa dễ biết bao.”
Nguyễn Trãi đứng dậy, xá một cái:
“Chúa công, hôm nay ngài giết Trãi, Trãi cũng phải nói. Đúng như Lê Văn Linh phân tích: bắc phạt là sách lược nòng cốt của Đặng Tất, không bao giờ có chuyện nhượng bộ. Vọng tộc, hào cường các vùng Tam Giang, Lạng Giang đang theo dõi xít xao. Nếu như bọn hắn cảm thấy Đặng Tất không có chí hướng bắc phạt, không chịu đứng đội, thì chuyện bắc phạt của họ Đặng chẳng khác nào kiếm củi ba năm, thiêu trong một giờ.”
Lê Lợi gầm lên:
“Trãi, đừng có nói nữa!”
Nguyễn Trãi cười nhạt, không trả lời, mà tiếp tục phân tích:
“Hoa Lư – Cổ Lộng đã thành thế cách sông nhìn nhau, sức người chẳng thể nào xoay chuyển trời đất, thì chi bằng bán một cái ơn cho phe Hoa Lư, Tràng An. Trước là để bọn họ chớ có xen vào chuyện bắc phạt. Sau là trấn nhiếp hoàng đế. Mà Lam Sơn chúng ta... chỉ sợ sẽ là một con cờ bị thí.”
Nguyễn Đông Thanh ngẩn ra, suy nghĩ một hồi, rốt cuộc cũng hiểu dụng ý của Nguyễn Trãi.
Ý của gã là: Lê Lợi không ngăn được hắn nói những lời này.
Đáng nhẽ, hắn có thể âm thầm rỉ tai Nguyễn Đông Thanh, không để Lê Lợi biết. Sở dĩ lên tiếng lý giải, hoàn toàn là vì gã ngay thẳng, không muốn làm chuyện khuất tất trước Lê Lợi mà thôi.
Lê Lợi hít sâu một hơi, nói:
“Bá hộ Nguyễn, cậu nghe cho kỹ đây! Ta là chúa Lam Sơn, ta mới là đầu rồng. Trời sập xuống có ta gánh! Nếu như cậu không nghe lời, thì từ nay ta và Trãi đường ai nấy đi.”
Nguyễn Đông Thanh cười:
“Chúa công, ngài thử tự nghe lại những gì mình nói xem có hợp lý không? Ngài và anh Trãi li hôn thì liên quan gì đến mỗ mà lấy ra đe dọa?”
Lê Lợi vừa nghe được câu phọt ra khỏi miệng gã, chúi đầu về phía trước suýt thì ngã. Gã nghiến răng, chạy xồng xộc đến chỗ Nguyễn Đông Thanh, một tay tóm tai, tay kia vỗ lưng tên bá hộ nghe đồm độp:
“Cái miệng của cậu rốt cuộc là ngậm bao nhiêu cái hố phân mới thối được như thế? Khai ra mau! Cái gì mà li hôn? À đấy... còn cái tội dạy hư thằng Lai, hôm nay tính một thể!”
“Chúa công tha mạng.”
Nguyễn Đông Thanh gào lên.
Trong sân, tiếng nói cười của cánh võ tướng đã say quắc cần câu vẫn ầm ĩ. Chỉ có Nguyễn Trãi là im lặng, cặp chân mày bạc phếch khẽ nhăn lại, rồi dãn ra. Gã phủi áo, đứng dậy, xá một cái rồi đi. Không rõ là vái ai.