Hành động của Phạm Thanh ở bờ sông tựa như hòn đá cuội ném xuống mặt sông Đáy: không để lại một chút bọt nước hay gợn sóng nào cả.
Quân Hậu Trần sang bờ bắc, vua tôi Trần Ngỗi rồng rắn kéo nhau vào thành Cổ Lộng.
Vừa đến căn nhà được phân cho, Nguyễn Đông Thanh đã nằm bẹt xuống sàn gỗ. Lúc này, hắn mới bắt đầu run bần bật, toàn thân mồ hôi lạnh đổ xuống như tắm. Trần Yên Chi khép cửa lại, cởi giáp trụ, ngồi xuống bên cạnh gã, tựa lưng lên mạng sườn Nguyễn Đông Thanh.
Gã hơi ngẩng đầu, lim dim:
“Cô đi tắm đi, với nhớ sát trùng vết thương.”
“Biết rồi. Đi đây. Không có tôi đừng có đái dầm vì sợ nhé, đại công thần.”
Trần Yên Chi đứng dậy, vỗ vào bàn tay trái đang run lẩy bẩy của gã một cái, vươn vai đi ra sau vườn. Nguyễn Đông Thanh bấy giờ mới phát hiện hai cánh tay của hắn đang run lên như người già bị parkinson từ bao giờ. Gã vội vàng nắm chặt bàn tay mình, nhưng không thể khiến chúng trở lại bình thường. Thế là, Nguyễn Đông Thanh đút đôi bàn tay đang run cầm cập của mình xuống dưới người, nằm đè lên.
Sống lưng hắn ớn lạnh...
Mồ hôi hắn túa ra đầy đầu...
Bấy giờ, nghĩ lại cảnh hàng vạn mũi tên trên đầu thành Cổ Lộng chĩa vào người, Nguyễn Đông Thanh mới thấy cả người như nhũn ra.
Hắn vẫn biết sợ. Thậm chí so với những người thời cổ đại, hắn còn nhát gan hơn. Chẳng qua... khi đến thành Cổ Lộng thương lượng với Mộc Thạnh, Nguyễn Đông Thanh biết gã không thể tỏ ra sợ hãi. Thế nên, có lẽ là một phép màu, cũng có thể bằng lí trí của con người, hắn che giấu sự hoảng sợ này.
Sau trận đánh, sự hưng phấn và adrenaline chảy rần rần trong người khiến gã quên đi nỗi sợ, thản nhiên đứng đón vua quan Trần Ngỗi sang bờ bắc. Bây giờ, khi mọi thứ đã dần yên ả, trở lại guồng quay thường ngày, sự sợ hãi bị chặn lại hồi trước mới ập đến, cuốn phăng Nguyễn Đông Thanh như một cơn thủy triều, một trận vỡ đê. Gã nhìn về phía vườn sau, nơi tiếng nước chảy róc rách đang vang lên đều đều, tự hỏi không biết vì sao Trần Yên Chi – một người hiện đại như hắn – lại có thể thích nghi với sự tàn khốc của chiến trường nhanh đến vậy.
Nguyễn Đông Thanh cảm thấy tựa hồ bản thân mình không quá bản lĩnh.
Hắn dẫn theo Trịnh Khả, đơn thân độc mã chạy đến Cổ Lộng, dùng võ mồm khuyên Mộc Thạnh rút quân. Toàn bộ quá trình đúng là có yếu tố đánh cược nhất định, cũng căng thẳng như làm xiếc trên mũi dao, nhưng ít nhất... hắn không phải ở trên tiền tuyến, nơi cơ bắp gào thét và não chạy như chó phải bả chỉ để giữ cho hắn sống thêm vài giây.
“Bá hộ Nguyễn vừa về đã nằm một đống thế?”
Nguyễn Trãi đẩy cửa vào, đôi lông mày trắng thương hiệu của gã nhướn lên một khúc ngắn, rồi lại hạ xuống. Nguyễn Đông Thanh nghe được những tiếng ồn ã phía sau, tưởng như là đàn voi chiến bọn họ dùng để phá quân Liễu Thăng vừa xổng chuồng.
Hiển nhiên, đấy là đám võ tướng.
Lê Lợi dẫn đầu đi vào, hai tay xách hai bọc lá chuối gói lại bằng lạt. Nguyễn Đông Thanh để ý đám ruồi bắt đầu tìm cách bu vào hai gói lá. Kinh nghiệm sống ở thời cổ đại báo cho hắn biết: bên trong đó có thịt.
Giống như đoán được ý nghĩ của hắn, Lê Lợi cười:
“Lúc thu dọn chiến trường, mổ thịt mấy con ngựa bị thương, Hôm nay ăn thả cửa. Sáu cân cơ đấy.”
Phía sau gã, Lê Lai, Nguyễn Xí, Bùi Bị đều nói to:
“Chúa công bảo phải khao thưởng bá hộ.”
Sau nữa, là hội đồng minh trong liên quân. Bùi Quốc Hưng nói:
“Trận này công đầu của bá hộ Nguyễn, mấy người chúng ta mới có lộc ăn đấy.”
Sau lưng gã, Trịnh Khả bĩu môi:
“Sao lại chỉ có mình bá hộ Nguyễn? Không có Trịnh Khả này đi theo cùng chắc gì giặc đã biết sợ?”
Lê Văn Linh vỗ vai gã, nói:
“Thôi, Ông tướng cứ bốc phét. Lúc bị bá hộ Nguyễn điểm danh ai là thằng té đái ra đấy, một hai đòi bá hộ chọn người khác?”
“Thì... đấy là do tôi không ngờ bá hộ Nguyễn rộng lượng hải hà được chưa? Cậu Linh dám nói ở trong hoàn cảnh của thằng này cậu không sợ?”
“Sợ. Nhưng là sợ Trần tướng quân. Cậu không thấy hôm nay cô ấy chém tướng à? Cẩn thận không cái đầu của cậu phải chuyển nhà đấy.”
“Đầu trên thì chắc phải tạm giữ lại, dù sao cũng là người có công... nhưng mà đầu dưới thì có thể xem xét.”
Giọng ồm ồm vừa cất lên là của Lê Sát.
Trương Lôi, Trương Chiến cũng đế thêm vào:
“Đúng đấy. Nghe nói lão Trần Ngỗi đang cần thêm quan nội hầu... Hay là Trịnh tướng quân đây xung phong nhận việc?”
Cả đám võ tướng cùng cười phá lên.
Bọn hắn mỗi người một phe cánh, người nào cũng có mục đích riêng. Thế nhưng, lúc này, dường như mọi toan tính cá nhân đều tạm thời bị quăng lên chín tầng mây.
Hôm nay... là thời điểm để ăn mừng.
Trong sân túa vào gần hai mươi người, đứng ngồi lố nhố. Chẳng mấy chốc, Trần Yên Chi đã ra nhà trước, cùng Nguyễn Đông Thanh tiếp khách khứa. Cô nàng đã cởi áo giáp, mặc một cái áo vải đơn giản, tóc buộc lên đơn giản theo kiểu đuôi ngựa, dùng khăn vải và trâm gỗ để giữ cố định. Trịnh Khả thấy cô nàng xuất hiện, rặn mãi mới ra được một câu khen ngợi đầy gượng gạo:
“Chị nhà quả thật là giai nhân tuyệt sắc.”
Lê Văn Linh thấy gã càng nói càng dở, bèn ho khan, chen vào một câu:
“Ý anh Khả là phu nhân nhà bá hộ lên ngựa thì cân quắc hào hùng chẳng thua kém bọn mày râu, về nhà thì thướt tha yểu điệu chẳng khác nào tiểu thư hào phú. Bá hộ Nguyễn có phúc lắm đấy.”
Trần Yên Chi hơi cúi mình:
“Không dám, hai vị quá khen.”
Nguyễn Đông Thanh ngồi trước chảo, rán mỡ ngựa. Một nửa chỗ ngựa được đám võ tướng thái mỏng, nửa còn lại thái quân cờ, ướp cùng hành, gừng, mắm, nghệ, riềng. Mấy người quan văn như Nguyễn Trãi, Lê Văn Linh thì vo gạo, thổi cơm.
Trong khoảng sân nhỏ, một đội toàn những cái tên ghi vào sử sách đang lúi húi nấu nướng. Trương Lôi Trương Chiến tìm cách bắt nạt Nguyễn Xí. Lê Sát gạ vật tay với Lê Lai. Bùi Quốc Hưng, Bùi Bị, Lê Ngân đứng la hét cổ vũ.
Sau độ nửa canh giờ, cả đám ngồi quanh một cái chảo to, một cái nồi lớn.
Thịt ngựa thái mỏng rán vàng, thịt ngựa chặt khúc thì làm một nồi giả cầy. Ngon hay không thì Nguyễn Đông Thanh chẳng dám nhận xét. Bởi lẽ, đối với những người hành quân suốt một năm nay như bọn họ, có là thịt luộc chay với muối chắc ăn cũng thấy ngon.
Nguyễn Trãi, Lê Văn Linh mở một đàn rượu, bắt đầu rót ra từng bát.
Rượu đục, chua và hơi chát, ngày thường thì là cái loại rượu rẻ tiền nhất, chuyên pha loãng ra bán cho cánh cùng đinh nghiện rượu. Thế nhưng lúc này, không một ai chê lấy nửa chữ. Cả đám võ tướng vừa cười ha hả, vừa cởi trần ra dưới ánh lửa, nâng chén cụng li. Bọn hắn uống rất cẩn thận, không một giọt rượu nào rơi ra ngoài, khác hẳn với cảnh nhậu nhẹt rượu đổ ra đầy ngực như trong phimg cổ trang.
Lê Lai mặt đỏ gay gắt, cầm bát dốc ngược. Lê Sát chẳng chịu thua kém, nốc ừng ực từng ngụm to. Xung quanh, trên từ Lê Lợi Bùi Quốc Hưng, dưới đến đám Lê Lai Nguyễn Xí, Trần Yên Chi đều dùng hai nắm tay đập lên đầu gối, hò như hò đò:
“Uống! Uống! Uống! Cạn! Cạn! Cạn!”
Trăng dần dần lên đến giữa trời. Ở một góc khác, Lê Văn Linh, Nguyễn Trãi dùng chén nhỏ, uống chậm rãi hơn từng ngụm. Nguyễn Đông Thanh ngồi gắp giả cầy, thỉnh thoảng lại dỏng tai lên hóng hớt, nhìn hệt như một con hamster.
Lê Văn Linh đột nhiên hỏi:
“Không biết anh Trãi nhìn nhận ra sao về thế cuộc thiên hạ?”
“Trãi tài sơ học thiển, xin lắng tai nghe cao kiến của anh trước.”
“Anh Trãi quá khiêm tốn rồi. Linh mới là người cần nghe chỉ giáo mới phải. Nhưng quả thật mỗ có vài điều tâm đắc, mong được anh chỉ bảo một hai, thì thật là vinh hạnh ba đời vậy.”
“Mời.”
“Thế cuộc thiên hạ hiện tại có thể thu gọn bằng bốn chữ ‘hợp lâu tất phân’ vậy. Đặng Tất vốn xuất thân là sĩ phu bắc hà, ưu tiên hàng đầu tự nhiên là nhanh chóng bắc phạt, tiến về kinh lộ. Sau đó cất nhắc kẻ sĩ đất Kẻ Chợ làm vây cánh, giải quyết vấn đề về gốc rễ chính trị của bản thân. Chuyện này là kế sách sống còn, tất không thể nhượng bộ.”
Nguyễn Trãi nghe đến đây, không khỏi gật đầu đồng tình. Nguyễn Đông Thanh ngồi một bên hóng hớt, bấy giờ mới hiểu lần trước ở bờ sông gã dùng kết quả lịch sử suy luận ngược nguyên nhân đã sai lầm, trong lòng đánh thót một cái. Thế rồi, gã lại nhìn về phía Nguyễn Trãi. Thằng cha lông mày trắng này rõ ràng biết gã nói sai, thế mà không tỏ vẻ gì, còn khen ngợi hết lời...
Quả thật là miệng quan trôn trẻ.
Lại nghe Lê Văn Linh nói tiếp:
“Mà cánh quan lại Hoa Lư, đứng đầu là Nguyễn Quỹ, thì không muốn Trần Ngỗi vuột khỏi tay mình, đóng đô ở Thăng Long.”
Nguyễn Trãi nói:
“Sau trận chiến Bô Cô, lính mới ở Hóa Châu tử thương thảm trọng, tướng lĩnh Hoa Lư cũng nhiều kẻ bỏ mình. Nói là phe Hoa Lư bị đánh nửa tàn phế cũng không phải là nói quá. Nhưng nghe lời anh Linh tựa hồ lại đặt phe Hoa Lư ngang hàng với phe Đặng Tất, không biết là có nguyên do gì?”
Lê Văn Linh nói:
“Anh Trãi cần gì phải thử tôi như vậy? Nếu như bây giờ chúng ta vẫn đóng quân ở Hoa Lư, thì tất nhiên là phe kinh lộ thế như mặt trời ban trưa. Nhưng hiện giờ... chúng ta chiếm được Cổ Lộng. Hai thành này cách sông nhìn nhau, có thể dựa vào ưu thế thủy binh sắc bén viện trợ, tương hỗ, quả thật không khác nào thế cục Tương – Phàn bên Tàu. Muốn lấy Tương Dương, ắt phải lấy Phàn thành. Tương tự... muốn công Hoa Lư, ắt phải chiếm Cổ Lộng. Mà thế cục thủ vững như bàn thạch này chính là con bài để đánh cược của phe Hoa Lư, ép Đặng Tất chọn nơi này làm kinh đô tạm thời, đại bản doanh của nghĩa quân. Về sau có từ tạm thời trở thành vĩnh viễn hay không... thì khó nói.”