Tiên phong Hậu Trần bị dụ vào lòng địch, từ chỗ chủ động, bây giờ lại bị quân Minh bao vây ngược lại. Chủ lực quân do Phạm Thanh cầm đầu lúc này phần nhiều còn ở trên thuyền, bị dòng lũ thiết kỵ cản lối, khiến cho đội quân Hậu Trần đầu đuôi không liên lạc được nhau.
Liễu Thăng tuy không có ưu thế tình báo từ người địa phương, nhưng tựa hồ lại hiểu rất rõ về hỏa pháo. Trọng kỵ dưới tay hắn đều hoạt động ở ngoài tầm bắn của hỏa pháo, chỉ dựa vào cung nỏ của Hậu Trần thì không tài nào làm gì được kỵ binh mặc giáp. Tuy Hậu Trần chiếm được một vài doanh trại, nhưng Liễu Thăng vô cùng giảo hoạt, không bao giờ để lại một khẩu pháo nguyên vẹn nào cho lính Trần sử dụng cả.
Phạm Thanh bấy giờ còn chưa kịp dựng doanh, lập trại, pháo chưa kéo xuống khỏi thuyền, chỉ có thể trơ mắt ếch nhìn quân tiên phong bị đối phương gói lại.
Thứ càng đáng sợ hơn xuất hiện.
Quân tiên phong của Hậu Trần bị vây đánh, nhưng không bị giết toàn bộ. Liễu Thăng cho người bắn chết tướng lĩnh cầm đầu, sau đó mở vòng vây, để thiết kỵ lùa ngược đám người này chạy về. Bản năng cầu sinh của con người khiến bọn hắn bổ về bờ sông nơi quân Hậu Trần đang đổ bộ, thế là quân ta đổ lộn với quân mình. Tiếng kêu khóc, tình cảnh mình đầy máu me của quân bạn khiến sĩ khí lính phòng thủ rơi xuống đáy vực, ép Phạm Thanh vào thế tiến thoái lưỡng nan. Nếu hạ lệnh bắn tên, thì quân Trần sĩ khí tự hạ xuống điểm đóng băng, chỉ sợ là lòng người sẽ chia năm bè bảy mảng. Nhưng nếu để yên cho đám tiên phong đã bị thiết kỵ quân Minh dọa sợ vỡ mật xông về phía bờ sông, thì lại đứng trước nguy cơ quân trận bị chính quân mình xông vỡ.
Phạm Thanh cuối cùng vẫn hạ lệnh bắn tên.
Quân tiên phong vừa thoát chết, đã thấy phe mình giương cung cài tên, đề cao giác mác đón chờ, thì chỉ còn biết chửi mắng. Thế nhưng người đằng sau thì không thấy được đằng trước xảy ra chuyện gì, chỉ biết kỵ binh quân Minh vẫn đang đuổi phía sau, bèn bản năng chen đẩy về phía trước, ép cả đội phải tiến lên để cầu thoát thân.
Thiết kỵ Mông Cổ đuổi đánh về phía thủy doanh bị quân Trần chiếm, thế nhưng không tiến công, mà ném đuốc, bắn tên cháy về phía... chiến thuyền của quân Minh.
Thuyền của quân Minh neo đậu trong trại, nhiều chiếc đã bị kéo hẳn lên bờ. Vốn là thuyền chiến thì phải thiết kế sao cho không dễ dàng bốc cháy, bằng không lúc mang vào thực chiến có khác gì một cái quan tài tập thể nổi trên sông? Thế nhưng chiến thuyền của quân Minh thì cứ như là bó đuốc, lửa lan đến đâu là cháy hừng hực đến đó. Đến lúc này, Phạm Thanh chẳng nhẽ còn không đoán được những con thuyền chiến này cũng là miếng mồi của Liễu Thăng?
Nếu không chất dầu, bùi nhùi, cỏ khô, thì thuyền chiến bình thường sao có thể cháy nhanh, cháy đượm, cháy dữ dội chỉ bằng mấy bó đuốc quèn và dăm mũi tên cháy được?
Phía trước là thiết kỵ, đằng sau là sông dài, hai bên là lửa lớn.
Quân Hậu Trần bấy giờ tựa như một con thú bị nhốt trong lồng, không còn một chỗ nào để đi.
Phạm Thanh nếu hạ lệnh rút quân, thì cũng đồng nghĩa với đưa lưng về cho Liễu Thăng. Binh lực mười phần liệu có giữ được bốn hay không còn khó nói. Huống hồ, nếu như quay đầu bỏ chạy, thì cũng coi như là thua trận, đường làm quan của hắn chấm dứt từ đây.
Ở lại, thì phải đối mặt với cảnh bảy vạn đại quân bị đối phương nuốt sạch.
Đương nhiên, lý thuyết thì là thế...
Trong cái cảnh lửa cháy hừng hực, kỵ binh dồn tới tận cửa, tên bay đầy trời, chính lệnh của Phạm Thanh còn có người nào nghe theo hay không thì khó mà nói rõ được.
Lúc này, mũi giáo của giám quân đã không còn cách nào kiểm soát được bộ tốt nữa.
Người ta đẩy nhau, lao xuống sông, gắng gượng bơi về phía bờ. Nước sông lạnh căm căm, giáp vải ngấm nước nặng thình thịch. Cho dù người có bơi giỏi cách mấy, cũng không thể nào vượt qua được khúc sông rộng vài trăm mét.
Người thi nhau chìm vào đáy sông.
Ở bờ nam, Đỗ Cối, Nguyễn Hiêu trông thấy ánh lửa ở bờ bắc, bèn lập tức điều thuyền nhỏ sang cứu viện. Lê Tiệt, Lê Nguyên Đỉnh tự mình ngồi thuyền lớn, sang đến soái hạm của Phạm Thanh.
Bấy giờ, Bắc Phạt Đại Nguyên Soái của Hậu Trần ngồi trên đầu thuyền, tóc tai xõa tung, toàn thân nồng nặc mùi rượu. Cái dáng vẻ thong dong bình thản, lễ độ chừng mực của một công tử thế gia vọng tộc lần trước đã chẳng còn tăm hơi đâu nữa.
“Hay cho một tên Liễu Thăng, giỏi cho một tên Liễu Thăng. Dám lấy doanh trại làm mồi, lợi dụng chuyện quân ta biết rõ bố phòng của chúng bày kế dụ địch. Ta thua không oan.”
Lê Tiệt, Lê Nguyên Đỉnh bĩu môi, thừa biết thằng cha này đang diễn, chẳng qua là muốn có một cái cớ thật đẹp, thật sạch để bào chữa cho chiến bại, an toàn rút lui mà thôi.
Cuộc đời của người như Phạm Thanh quá thuận lợi. Bây giờ vừa bị ngăn trở đã không chịu nổi, buông thả bản thân. Bọn hắn vốn cũng chẳng muốn chạy theo dỗ đám cậu ấm cô chiêu làm gì. Thế nhưng thế lực của họ Phạm ở Hoa Lư, Tràng An rất lớn, bọn hắn muốn tiến thân thì không thể không mượn sức bọn họ. Thành thử, hai người vội vàng chạy lại, tâm không cam, tình chẳng nguyện, mở lời nói những điều Phạm Thanh muốn nghe:
“Phạm nguyên soái, bây giờ sự thể đã rồi, không phải sức người có thể thay đổi được. Chi bằng giữ lại thân thể hữu dụng, rút về bờ nam, chờ ngày khác lại báo thù này.”
“Phạm mỗ xuất sư bất lợi, thật không còn mặt mũi nào nhìn mặt thánh thượng.”
“Thắng bại là chuyện thường của nhà binh. Phạm nguyên soái, giữ được núi xanh thì lo gì không có củi đốt? Quân tử báo thù, mười năm chưa muộn, chớ có sính cái dũng của kẻ thất phu, để đến nỗi cơ hội rửa nhục cũng không còn.”
“Lời nói của hai vị như thể hồ quán đỉnh, bát vân kiến nhật. Thanh xin nghe theo hai vị tướng quân.”
Phạm Thanh gật đầu, nhảy lên thuyền của hai người Lê Tiệt, Lê Nguyên Đỉnh, lấy soái hạm của mình làm tường chắn. Quân đội Hậu Trần bị bỏ lại ở bờ bắc bấy giờ như rắn mất đầu, như bầy cừu chờ bị đàn sói xâu xé.
***
Ở một bên khác...
Liên quân Thanh – Nghệ – kinh lộ bị đẩy ra chiến trường phía tây lúc này cũng đã vượt sông.
Bùi Quốc Hưng cưỡi ngựa đi đầu, xốc ngọn thương tấn công vào doanh trại phía tây bắc của quân Minh. Gã vung thương, áo bào bay phần phật, quát:
“Các anh em, giết! Hôm nay phải để xác giặc Minh hòa lẫn vào với mảnh đất này, để máu chúng thấm đẫm từng tấc bùn, hạt cát! Giết!”
Vừa dứt lời, thì Bùi Bị đi bên cạnh đã huýt sáo, ra lệnh cho binh voi xông tới. Voi chiến được ăn no đủ, có quản tượng chỉ huy, lúc này hung hãn như một đội xe tăng vậy. Chúng cũng mặc xác phía trước là tường thuẫn, là rào cản, là người hay lều bạt. Đám voi bổ nhào về trước, vòi quật tung những ngọn giáo dài, ngà húc văng những tấm khiên cứng chắc nhất. Chiến giáp của quân Minh đứng trước chân voi thì như là sắt vụn, một khi bị đạp trúng thì không chết cũng tàn tật.
Khi không còn bị dùng làm con dê thế mạng của lịch sử, tượng binh trở thành một nỗi kinh hoàng trên chiến trường.
Mặc cho quân Minh có tổ chức như thế nào, mặc cho tướng Minh có chỉ huy ra sao, cũng đều vô dụng trước những bước đi của bầy xe tăng sinh học. Binh lực ở các trại phía tây đã bị Liễu Thăng rút bớt để tham gia vào chiến trường phía đông với quân của Phạm Thanh, thành thử lúc này tướng chỉ huy của quân Minh càng giật gấu vá vai.
Đứng trước sự càn phá của lũ voi chiến và những trận mưa tên bắn yểm hộ đầy bài bản của quân Lam Sơn, tuyến phòng thủ phía tây vốn đã bạc nhược của quân Minh chẳng mấy chốc đã tan vỡ.
Bùi Quốc Hưng xốc ngựa, nhắm chuẩn một tướng giặc đang điều động quân tốt, bắn một mũi tên trúng ngay trán. Người nọ chỉ kịp ú ớ mấy tiếng, ộc ra một đống máu tươi, rồi cũng gục luôn xuống trong vũng máu.
Bùi Quốc Hưng giơ cao cờ hiệu của Liễu Tông, cười to:
“Địch tướng họ Liễu bị chém đầu!”
Bùi Quốc Hưng chém được tướng địch, càng khiến quân tốt dưới trướng trở nên hung hãn hơn. Đám Lê Sát, Lê Ngân, Trương Lôi, Trương Chiến thấy thế thì cũng càng hăng máu hơn trước.
“Anh em, xung phong, giết!!!”
Lê Sát vác một cây gậy bịt sắt, xổ vào ba quân, vung côn nhè đầu quân địch mà đập. Mũ giáp bị gã đánh móp cả vào một đoạn, giáp sắt giáp vải gì bị gậy của Sát quệt trúng đều bị biến dạng.
Gã dẫn một nhánh bộ binh đánh vòng sang phía đông, đạp tung cửa trại địch.
“Tặc tướng chớ có ngông cuồng, Lưu Tuấn đến đây!” (tiếng Trung)
Lê Sát đang đánh hăng, chợt nghe phía đông có tiếng Tàu xì xà xì xồ, hắn nghe chẳng hiểu lấy một chữ. Nhưng dù không biết nội dung, thì chỉ dựa vào ngữ khí, Lê Sát cũng đoán được kẻ vừa lên tiếng không phải hạng thân thiện. Thế là, gã vung gậy sắt, đỡ một đòn đại đao của địch.
Lưu Tuấn thấy Sát cao to khác thường, hoàn toàn không giống với dân phương nam thấp bé nhẹ cân, thì không dám coi thường. Hắn đã leo lên lưng ngựa, cầm thanh đao nặng, xông tới mà chém. Thế nhưng, Lưu Tuấn vẫn đánh giá thấp quái lực của Lê Sát.
Lê Sát gầm lên một tiếng, thò bàn tay tóm lấy cổ ngựa, bẻ nghe rắc một cái. Sau đó, gã nhấc bổng Lưu Tuấn lên, cả người, giáp, vũ khí cộng lại nặng phải gần hai trăm cân, ấy vậy mà Lê Sát nhấc nhẹ như không. Hắn quật tướng địch một cái thật mạnh, chỉ nghe rắc một cái giòn tan, Lưu Tuấn đã phun ra một búng máu to.
Nhưng thế vẫn chưa hết, Lê Sát không nói không rằng, bồi thêm hai gậy. Lưu Tuấn trúng phải đòn này xong, ngũ quan biến dạng, phần đầu tổn thương nặng đến không còn nguyên vẹn. Bấy giờ cho dù để bà cụ thân sinh ra hắn đến nhận con có lẽ cũng không nhận ra được.
“Tướng địch họ Lưu bị chém!”
Bùi Quốc Hưng cười to:
“Bá hộ Nguyễn, giết được hai tướng giặc, bây giờ quân ta sĩ khí như cầu vồng, sao không thừa thế đánh thẳng vào Cổ Lộng?”
Nguyễn Đông Thanh lắc đầu, nói:
“Bùi tướng quân chớ vội. Để Thanh và phiên dịch đi lên trước đã. Nếu như thuận lợi, có khi chúng ta chiếm được thành mà không cần tốn một mũi tên hòn đạn nào cả.”
Bùi Quốc Hưng nói:
“Bá hộ Nguyễn đừng có bốc phét đấy.”
Nguyễn Đông Thanh cười:
“Vẫn xin Bùi tướng quân tạo điều kiện giúp cho.”
“Không hề gì. Dù sao sau lưng còn có quân của Liễu Thăng. Chưa nhổ được cái đinh này, muốn công thành cũng là ngủ mơ nói mớ thôi. Bây giờ ta sẽ ra lệnh hạ trại. Không biết bá hộ đã có ai làm hộ vệ đi cùng hay chưa?”
“Trịnh tướng quân, có dám vào thành Cổ Lộng với Thanh một chuyến không?”
Nguyễn Đông Thanh vừa nói dứt câu, cơ hồ toàn bộ dàn tướng lĩnh của liên quân Thanh – Nghệ – kinh lộ đều há hốc mồm á khẩu. Đặc biệt là nhân vật chính được nhắc đến: Trịnh Khả.