Sáng hôm sau...
Quân Hậu Trần dong thuyền, dàn kín cả bờ nam.
Sáu trăm chiến thuyền, xếp thành quân trận, dài có đến hơn nửa dặm. Mặt sông cờ xí rợp trời, chỉ nhìn thôi cũng đủ khiến người ta hít thở không thông.
Tiếng trống trận vang lên dồn dập, giáo mác, cung tên phản chiếu ánh mặt trời sáng lòa. Phạm Thanh dẫn bốn người Đỗ Cối, Nguyễn Hiệu, Lê Tiệt, Lê Nguyên Đỉnh quỳ trước chiến xa của Trần Ngỗi.
Trần Ngỗi đọc bài hịch thảo phạt quân Minh:
“Bọn giặc Minh tráo trở lật lọng, đổi trắng thay đen, mượn cớ giúp họ Trần, thực đem binh xâm phạm; cướp châu, đoạt huyện, dối sĩ, lừa dân. Máu lê dân chảy đỏ đồng, xương bách tính nổi trắng sông. Trẫm hễ nghĩ đến là lòng đau như cắt, nước mắt tự rơi, chỉ hận không thể chắp cánh bay, tay cầm gươm Hưng Đạo mà chém hết bọn giặc.
“Miếu đường bị sỉ nhục, tông tổ chẳng yên; sĩ phu sống tạm, trăm họ chết mòn.
“Trẫm là con cháu họ Trần, vai gánh mệnh trời, lưng đeo nợ nước, há chịu để xã tắc nghiêng ngửa, giang sơn đắm chìm!
“Nay dựng cờ đào, hòa rượu vào sông. Cắt máu ăn thề, quyết rửa quốc thù. Thu phục anh hùng thiên hạ, quy tụ nghĩa sĩ thế gian, thề cùng chung hoạn nạn, ngọt sẻ bùi chia, quyết xây nghiệp lớn, lập chí trừ gian, đòi lại cố đô, đánh đuổi rợ bắc.
“Bến đò Bô Cô, ngã ba Gián Khẩu, là nơi binh tranh, không thể rơi vào tay giặc. Giặc tuy đông, chí đã nhụt; ta tuy ít, lòng càng kiên.
“Một thước núi, một tấc sông, quyết không để giặc giày xéo; một giọt máu, một hạt thóc, thề chẳng để giặc vơ thu.
“Các ngươi hãy nhớ: thắng, thì xã tắc phục hưng, cơ đồ phục dựng; thua, thì giặc càng hung bạo, dân chúng lầm than.
“Vậy nên, tim như sắt, chí như đồng; vua tôi hôm nay liều chết đánh một trận, phá tan giặc dữ, dựng lại non sông, cứu muôn dân trong cảnh dầu sôi, kéo trăm họ ra cơn nước lửa.
“Thắng, trẫm nhất định luận công hành thưởng, để các khanh gia cùng hưởng phú quý. Bại, trẫm nhất định cùng ở lại với ba quân, cầm kiếm giương cung, giết được thêm một tên giặc Minh thì nhiều một tên. Nếu ai nhụt chí chùn chân, thì sẽ như tay áo này.
“Nay cùng Trẫm, một lòng một dạ, lấy đầu giặc dâng tổ tông, lấy chiến thắng báo sơn hà, lưu danh thiên cổ!”
Lão đọc đến đây, dùng chân di lên cánh tay áo vừa bị lưỡi gươm gọt mất.
Đám người Phạm Thanh, Đỗ Cối, Nguyễn Hiệu cúi đầu dạ ran:
“Chúng thần nguyện liều mình xông pha, dốc cạn tài hèn, lấy hết sức mọn, giúp bệ hạ đòi lại núi non, phục hồi chính thống. Nay thề đánh đuổi những tên tráo trở lật long, trừng phạt những kẻ bán nước cầu vinh. Nhược bằng lui lại nửa bước, thì nguyện bị muôn mũi tên bắn xuyên tim, đọa xuống địa ngục A Tỳ.”
“Chư tướng lên thuyền!”
Trần Ngỗi phất cờ, nói to:
“Mang trống trận đến đây. Trẫm muốn đích thân nổi trống trợ uy cho các vị anh hùng thiên hạ, chí sĩ tứ phương.”
Ở bờ đối diện, Liễu Thăng chỉ có trong tay hai trăm chiến thuyền, binh lực quân Minh tính ra cũng chỉ có ba bốn vạn. Thành thử, quân Minh thủ vững thủy trại, không ra giao chiến, ép quân Trần phải đánh một trận vượt sông. Trước đó, chính vì không muốn bị ép vào thế bất lợi chiến lược trong cuộc chiến với Liễu Thăng mà cả Đặng gia quân lẫn Lam Sơn đều án binh bất động.
Thế nhưng, cục diện cân bằng, giằng co lẫn nhau của hai bên cuối cùng cũng bị đợi quân chi viện và những thay đổi trong bộ máy đầu não của quân Trần phá vỡ.
Phạm Thanh dẫn đầu đội thuyền, cho quân tấn công mạnh vào thủy trại của địch.
Liễu Thăng chia quân thành từng tốp, người này ngã xuống thì kẻ sau lên thay, lại cho người không ngừng nã pháo về phía đội thuyền của quân Trần. Tướng Hoa Lư – Tràng An giống như bật hack map, vừa đổ bộ lên bờ đã biết phải dẫn quân tấn công vào đâu, tựa hồ bố phòng của thủy trại quân Minh đã nằm gọn trong đầu bọn hắn. Lúc này, ưu thế tác chiến ở địa phương của cánh tướng lĩnh vùng Ninh Bình, Hoa Lư được phát huy tối đa.
Liễu Thăng một mặt phái tử sĩ cưỡi thuyền Mông Đồng ra đâm thuyền chiến của quân Trần, một mặt khác lại cho quân cầm thuẫn tiến lên giữ vững bờ sông, cung tiễn thủ đứng trên tường đất cao nã cung xuống yểm hộ. Sĩ tốt hai bên phần lớn chẳng hiểu nhau nói gì, chỉ biết gào thét xông tới, hoặc cổ vũ cho đồng bạn đằng sau.
Răng nghiến vào nhau, ngón tay bấu chặt chuôi binh khí, máu chảy ròng ròng, mồ hôi nhỏ nhễ nhại. Lửa cháy, khói đặc, tiếng trống, tiếng hét, tiếng kim loại va chạm nhảy múa trong những tia nắng phản chiếu trên lưỡi gươm mảnh giáp, tất cả tạo thành một bức tranh chiến trường chân thực và đẫm dầy máu tươi.
Quân Hậu Trần chết sáu bảy người, quân Minh mới chết một. Thế nhưng quân Minh trú đóng ở thủy trại chỉ có hơn một vạn, còn lại một vạn thì được chia canh giữ ở thành Cổ Lộng, làm thế sừng trâu chĩa vào nhau. Thành thử, tuy là quân lính thiệt hại nặng, nhưng tướng lĩnh của Phạm Thanh rất nhanh đã bước đầu chiếm được bờ sông, đẩy lùi quân Minh.
Lúc này, vị Bắc Phạt Đại Nguyên Soái vừa được phong chính đang đứng nơi đầu thuyền, nheo mắt nhìn về phía thủy trại của Liễu Thăng. Chiếm được bờ sông mới chỉ là bước đầu tiên mà thôi. Cuộc chiến đổ bộ kế tiếp đây mới là trận đánh càng cam go, càng đẫm máu hơn nữa.
“Nguyên soái, tiền quân của ta đã thiệt hại ba phần mười. Giám quân dùng giáo mác ép buộc cũng bắt đầu không khống chế được tình hình nữa. Nếu cứ tiếp tục chỉ sợ sẽ sinh loạn.”
Lính liên lạc từ tiền tuyến trở về báo tin, trên mặt còn dính đầy bùn đất và tro tàn, bết lại thành từng mảng vì mồ hôi và máu tươi.
Phạm Thanh gật đầu:
“Cho tuyến đầu lui lại, để tuyến hai lên thay thế. Phái người qua sông liên lạc với bốn vị tứ trấn tướng quân nhanh chóng phái binh sang sông chi viện.”
Lính liên lạc gật đầu, sau đó ngồi thuyền nhẹ, băng băng vượt qua con sông lạnh lẽo.
Khúc sông Đáy ở ngã ba Gián Khẩu rộng độ hai ba trăm mét, nếu như ngồi thuyền con, chèo hết sức, nếu tình thế thuận lợi cũng cần non nửa tiếng mới qua được đến bờ bên kia.
Thành thử, tính từ lúc Phạm Thanh ra lệnh, cho đến khi cánh sinh lực quân do bốn người Đỗ Cối chuẩn bị sẵn sàng tham chiến thì đã là chuyện của hơn một tiếng sau đó. Lê Tiệt, Lê Nguyên Đỉnh nhân lúc lính liên lạc ngồi nghỉ ngơi, bèn lân la lại gạ chuyện:
“Cậu lính, quân ta tổn thất nhiều người như thế, không biết nguyên soái có định để đám người ở phía tây chi viện hay không?”
“Bẩm ngài, con thấp cổ bé họng, nào dám bàn suông chuyện quân cơ trọng đại? Nhưng nếu tướng quân không chê, một lát nữa qua sông, con sẽ chuyển lời thay ngài hỏi nguyên soái một tiếng.”
“Thế thì quý hóa quá. Trăm sự xin nhờ cậu. Ở đây có một chút lòng thành, mong cậu nói tốt mấy câu về chúng ta trước mặt nguyên soái.”
Lê Tiệt cười cười, ôm vai bá cổ người lính liên lạc cực kỳ thân thiết.
Lê Nguyên Đỉnh thì len lén dúi cho người nọ một túi tiền, cười:
“Ở đây có chút lộc, coi như là các tướng thưởng cho cậu uống rượu. Cậu qua sông cứ nói với nguyên soái là không cần phải gọi cái đám người ngoài đấy làm gì, người Hoa Lư, con cháu Đại Thắng Minh Hoàng Đế chúng ta thừa sức đánh bại giặc Minh. Việc hậu phương chi viện nguyên soái cứ yên tâm giao cho bốn người chúng ta.”
Tên lính được cho tiền thì mừng rỡ, vội vàng cảm tạ, rồi dẫn cánh quân chi viện ngồi thuyền nhẹ vượt sông Đáy.
Trong thời gian ngắn, bốn người Đỗ Cối trưng thu được của dân chúng quanh vùng ngàn con thuyền đánh cá, một lần có thể chở từ hai đến bốn người không tính người chèo thuyền. Một lần vượt sông, lại có ba ngàn sinh lực quân Hậu Trần gia nhập vào chiến trường.
Phạm Thanh có thêm quân chi viện, bèn lấy cánh quân này bổ sung cho tuyến quân thứ hai, một khi sĩ khí bắt đầu sụt giảm là lập tức đẩy lên đổi kíp với binh lính trên tiền tuyến. Gã lại lập tức cho người lái quay đầu thuyền, sang sông điều thêm quân sang bờ bắc.
Lính liên lạc nhận được đút lót, lấm lét tiến tới, thuật lại lời của hai người Lê Tiệt, Lê Nguyên Đỉnh cho Phạm Thanh nghe. Gã bèn cười vang:
“Việc ấy cũng chính là ý của bản nguyên soái, bốn vị tứ trấn tướng quân cả nghĩ quá rồi. Lộc lá thì nhà ngươi cứ giữ lấy, coi như là thưởng ngươi vất vả cực nhọc vì việc quân.”
Quân Hậu Trần ở tiền tuyến được bơm thêm máu mới, thành thử tuy thiệt hại nặng nề, nhưng sức chiến đấu nhìn chung lại không giảm sút quá đáng kể.
Liễu Thăng cho quân tổ chức rút vào doanh trại, lấy hàng rào, cung tên, giáo dài cản bước tiến của quân Trần. Hắn điều binh có chương pháp, trận thế tiến thối linh hoạt chừng mực, dựa vào quân số bằng một phần ba mà thủ vững như bức tường. Quân Trần cập bờ dồn lên đánh tới, nhưng lại không cách nào hoàn thành thế trận vây quanh, gói bánh quân Minh được.
Không vây được trại địch, Phạm Thanh cũng không dám hạ trại.
Liễu Thăng cho quân vừa đánh vừa lui, bỏ dần từng doanh một. Quân Hậu Trần ỷ y đã biết cách bố trí binh lực của y, dồn lên mà đánh. Chẳng mấy chốc, từ chỗ vừa mới xuống khỏi thuyền, chỉ chiếm được bờ sông, nay quân của Phạm Thanh đã bị hắn dẫn lên phía bắc truy kích hơn năm dặm.
Chiến trường bị mở rộng, tuy quân Trần lúc này đã có không gian hạ trại, nhưng cũng khiến cho Liễu Thăng có được chiến cơ hoàn toàn mới.
Phạm Thanh vội vàng phái lính liên lạc ra, bảo các tướng chớ ham công lao, mau chóng lui lại giữ vững mảnh đất chiếm được ở bờ bắc. Thế nhưng lúc này quân lính Hậu Trần như con nghiện cờ bạc đang trên đà thắng cược thì còn nghe lệnh vào tai được sao? Đầu người trước mắt là tiền bạc, là ruộng đất, là đặc quyền đặc lợi. Bấy giờ đừng nói là Phạm Thanh, có là ông trời thì cũng đừng mơ mà khiến bọn hắn ngoan ngoãn dừng bước tiến được.
Thế là, điểm yếu trí mạng nhất của quân Hậu Trần bị phơi ra giữa bàn dân thiên hạ.
Xét cho cùng, thì binh lính Hậu Trần được tổ chức phần lớn từ trai tráng vùng Thanh – Nghệ, Diễn Châu, Hóa Châu, Hoan Châu. Một tướng lĩnh xuất thân Hoa Lư, lên cầm quyền nhờ vào quan hệ trong triều, chưa lập một tấc quân công nào thì há có thể khiến binh sĩ nghe lời? Vấn đề lần trước Trần Nguyên Hãn gặp phải tái hiện trên người Phạm Thanh, chỉ là hiện tại quy mô đã lớn hơn gấp nhiều lần mà thôi.
Lúc Phạm Thanh còn đang loay hoay xoay sở, thì ở các doanh trại phía đông, phía tây của quân Minh, kỵ binh đã ùa ra, gia nhập vào chiến trường.
Kỵ binh của người Minh là một đội trọng trang kỵ binh, cả người lẫn ngựa đều mặc giáp. Hơn nữa, người, ngựa, đều được Chu Đệ tuyển từ Mông Cổ, sức chiến đấu cho dù có không bằng kỵ binh của đế chế Mông Cổ đi nữa, thì cũng không thua sút bao nhiêu.
Hai đội kỵ binh như cái kìm kẹp, cắt đứt quân trận của Hậu Trần.
Lúc này, thế trận đảo chiều...