Tiểu Thuyết Dài Kỳ: Thuận Thiên Kiếm - Chương 37: Mây vờn con nước, sóng cồn cuốn hết anh hùng (1/4)

Ảnh đại diện
Nghịch Tử Nhà phân tích

Sáng ngày thứ mười sau khi Nguyễn Trãi và Trần Yên Chi từ Hoa Lư trở về…

Nguyễn Đông Thanh đứng bên bờ sông, mắt nhìn về phương bắc. Doanh trại quân Minh kéo dài mấy dặm, lều bạt san sát, thuyền chiến neo đậu trong thủy trại ven sông. Phía ngoài còn có tường gỗ che chắn, kiên cố vững vàng, che chắn cho thuyền chiến khỏi thuyền lửa của quân Trần.

Không giống như trong phim cổ trang, ngoài đời thực hành quân thời chiến tranh lạnh không có chuyện dồn hết mấy chục vạn quân vào một chỗ. Thông thường, mỗi doanh trại chỉ chừng hơn vạn binh đổ lại, bố trí cách nhau một quãng nhất định. Bên trong khép kín, có tường rào chặn ngựa, có kho lương riêng, kho binh khí riêng.

Nói theo cách hiện đại, thì mỗi doanh trại chẳng khác nào một mô-đun dựng sẵn. Việc của tướng lĩnh là điều binh cho đúng quy cách, lập trại cho đủ phép tắc. Những doanh trại này vừa độc lập, vừa có thể hiệp phòng hỗ trợ nhau, sẵn sàng đối phó bất cứ kẻ địch nào dám cả gan tập kích.

Thành thử, đánh úp trại địch trong chiến tranh quy mô lớn khó như lên trời, nếu không biết rõ chỗ đóng quân của thống soái, biết cách bố phòng của kẻ địch, thì loại chiến công như “trăm kỵ đạp Tào doanh” của Cam Ninh, hay “tám trăm đánh mười vạn” của Trương Liêu chỉ tồn tại trong tiểu thuyết, hoặc trong liệt truyện mang tính tô vẽ cá nhân mà thôi.

Lam Sơn tập kích thành công mà không rõ bố phòng của Liễu Thăng là vì ba yếu tố.

Một, Liễu Thăng vừa tới ngã ba Gián Khẩu, thủy trại chưa được xây dựng hoàn chỉnh.

Hai, Liễu Thăng ỷ có sông Đáy che chắn, cho là quân Lam Sơn có tập kích thì hắn cũng cho thủy quân đánh chặn được đoàn thuyền của địch ngay giữa sông.

Ba, Liễu Thăng không ngờ địch tiên liệu được sẽ có động đất, sử dụng động đất và thế nước dềnh cao để đánh úp bờ bắc.

Ba yếu tố này chồng lên nhau theo kiểu cấp số cộng, mới đúc nên được chiến thắng “địa chấn độ giang” hồi tháng mười. Nhưng đây là chiến dịch mang tính đặc thù lớn, phụ thuộc nhiều vào yếu tố thiên tai, tính tham khảo không cao, chỉ có thể xem như là một ngoại lệ.

Lúc này…

Trong doanh Lam Sơn, người người đang tất bật chuẩn bị thức ăn cho voi.

Cỏ cây, lá củ gì có thể moi móc được, người ta đều đem về nhồi cho lũ voi chiến. Dân phu và quản tượng ngày một gầy rộc đi, trong khi mười mấy con voi ngày một vạm vỡ, lông da bóng mượt, khí thế ngùn ngụt.

Nguyễn Đông Thanh đứng nhìn, bất giác trầm tư.

Hắn hiểu, Lê Lợi đặt voi lên hàng đầu, bởi sức mạnh của mười mấy con voi chiến kia đủ xoay chuyển cục diện bến Bô Cô. Còn những quản tượng, dân phu… thì không. Quyết định này tuy lạnh lùng, song lại hợp lẽ cầm quân đánh trận.

Chỉ có điều, tiềm thức Nguyễn Đông Thanh vốn của một người hiện đại.

Ba mươi năm sống trong hòa bình, trong cái thời công dân được đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ đầy đủ, tư tưởng ấy đã ăn sâu thành bản năng. Kiến thức hay trải nghiệm ở quá khứ chưa đến một năm đâu thể trong phút chốc mà đổi cả thế giới quan, giá trị quan, nhân sinh quan.

Trần Yên Chi khi ấy bước lại, ngồi xuống cạnh hắn, tháo mũ giáp để bên hông. Mái tóc dài lấm bùn đất, dính bết mồ hôi.

“Hoa Lư lại đưa thêm viện binh.”

“Lại nữa à? Lần này bao nhiêu thuyền?”

Nguyễn Đông Thanh xoay đầu, hỏi ngay.

Để thắng được Liễu Thăng, muốn tái hiện trận Như Nguyệt, Lam Sơn bắt buộc phải có một cánh quân đánh nghi binh. Bởi vậy, từng động thái từ Hoa Lư đều liên hệ trực tiếp đến thành bại của “chiến dịch Như Nguyệt 2.0”, hắn không thể không chú ý.

Trần Yên Chi dạo này lấy cớ luyện kỵ binh, thường cho binh sĩ đi sát Tràng An để dò xét. Thành thử, việc Hậu Trần điều tân binh từ Hóa Châu ra sao đều lọt vào mắt nàng.

Hay chuyện, Nguyễn Đông Thanh cùng nàng báo lại với Lê Lợi và các tướng. Nguyễn Trãi nghe nói Đặng Tất điều thêm quân ra bắc, cả buổi chỉ lặng thinh, chẳng thốt nửa lời.

Tối hôm ấy…

Nguyễn Đông Thanh đem một quả bầu khô đến ném cho Nguyễn Trãi. Gã vừa cười vừa ngồi xuống bên kia đống lửa:

“Hành quân đánh trận chán thật. Đến một ngụm rượu cũng không có mà uống, chẳng biết xả nỗi bực dọc kiểu gì.”

“Bá hộ biết mỗ đang phiền?”

“Biết chứ. Mặt anh trông như cục cứt ngâm ba ngày dưới sông, có mù cũng thấy.”

Nguyễn Đông Thanh cợt nhả, rồi hạ giọng hỏi:

“Anh không ngờ Đặng Tất sẽ điều thêm lính từ Hóa Châu ra sao?”

Nguyễn Trãi gật đầu, rồi lại lắc đầu, cuối cùng thở dài:

“Có nghĩ đến, nhưng không ngờ Đặng quốc công đỉnh đỉnh đại danh lại có thể không từ thủ đoạn đến nhường này. Ha... buồn cười thay hai chữ anh hùng.”

Nguyễn Đông Thanh im lặng, quăng một cành củi vào lửa.

Nguyễn Trãi tiếp lời:

“Một đám tân binh, vừa có thể hư trương thanh thế, lại vừa làm mồi cho đám sĩ phu hào cường Hoa Lư cắn câu. Một hòn đá ném hai con chim, tính toán quả là cao thâm. Đứng ở bến sông cũng nghe được tiếng gảy bàn tính của lão ở tận Hoa Lư.”

Nguyễn Đông Thanh vẫn không chen ngang, để mặc chàng trai lông mày trắng trút hết bực dọc.

Chỉ riêng bốn chữ “hư trương thanh thế” đã đủ khiến hắn hiểu vì sao Nguyễn Trãi uất ức. Bởi cái then chốt trong chiến dịch này chính là màn nghi binh của Hoằng Chân, Chiêu Văn.

Hai người dù có biết chuyện, biết rõ tính toán của lão, nhưng lại chẳng thể nào nói được gì. Cho dù là nói xấu sau lưng cũng tự thấy chối, cứ như tự đấm vào đống phân vậy.

Nguyễn Đông Thanh khẽ thở dài.

Hắn và quân họ Đặng vốn ít va chạm, nếu có thì cũng toàn thù hằn – như lần bị Đặng Dung phục kích chẳng hạn. Thế nhưng, ở trận Bô Cô trước, hắn tận mắt chứng kiến những binh lính trẻ của Đặng gia quân. Trên gương mặt gầy guộc vẫn ánh lên khát vọng lập công, niềm mong đợi một tương lai sáng lạn.

Cái bọn lính từng hung hãn đốt cướp ở Nha Nghi, giết hại dân lành tay không tấc sắt, khi ra trận lại có dáng vẻ của sinh viên mới ra trường, đầy ắp mộng tưởng thanh xuân. Con người có lẽ vốn phức tạp như vậy đấy. Đơn giản hóa họ, đóng khung họ vào một mặt duy nhất, kỳ thực cũng chỉ để phục vụ mục đích chính trị mà thôi.

Lần này cũng vậy…

Để Đặng Tất thực hiện được những toan tính trên chính trường, để Lam Sơn đạt được mục tiêu quân sự, thì những tân binh ấy phải chết. Phải trở thành vật hy sinh, thành từng phiến đá lát đường cho bàn cờ chính trị.

***

Lại qua ít hôm...

Sứ giả của Trần Ngỗi từ Hoa Lư đến doanh trại của Lê Lợi, thông báo đã chọn ra một nguyên soái mới thống lĩnh toàn quân, yêu cầu quân Lam Sơn phối hợp phục tùng mệnh lệnh, nghe điều phối của vị tổng chỉ huy mới này.

Lê Lợi hỏi ra mới hay người này tên là Phạm Thanh. Đám Đỗ Cối, Nguyễn Hiệu, Lê Tiệt, Lê Nguyên Đỉnh thì được thăng làm tứ trấn tướng quân, mỗi người nắm năm ngàn binh mã. Tuy hầu hết là chỉnh hợp từ tân binh Đặng Tất điều từ Hóa Châu ra, song dẫu sao cũng là binh quyền hàng thật giá thật.

Hôm sau, Phạm Thanh đích thân dẫn bốn vị tứ trấn tướng quân vừa nhậm chức đến doanh trại “chào hỏi” quân Lam Sơn. Lê Lợi trông người này mặt trắng dáng khỏe, nói chuyện nhẹ nhàng lễ độ, biết ngay chẳng phải con hào môn thì cũng là cháu vọng tộc. Lại trông đám Đỗ Cối, Nguyễn Hiệu, Lê Tiệt, Lê Nguyên Đỉnh người nào người nấy đều dẫn theo một đội thân vệ mấy trăm người, hẳn nhiên là muốn đến để thị uy.

Lê Lợi cũng ừ ào đối đáp lấy lệ, hẳn nhiên là không muốn nghe lệnh của cái gã Phạm Thanh từ trên trời rơi xuống này. Mấy người Bùi Bị, Nguyễn Xí, Lê Lai cũng không mấy hoan nghênh hội Đỗ Cối, Nguyễn Hiệu, Lê Tiệt, Lê Nguyên Đỉnh. Bốn người họ thách hai người Bùi Bị, Lê Lai thi vật tay, tựa hồ là muốn chứng minh với thiên hạ rằng danh tướng “sức địch muôn người” mà Đặng Tất quảng cáo cũng chỉ thường thôi.

Sáu người (không tính Nguyễn Xí), lui vào một lều riêng để thi tài. Cụ thể thắng bại ra sao thì bảy người giữ kín miệng như bưng, thế nhưng cứ nhìn cái cách mặt bốn vị tứ trấn tướng quân tối như đít nồi là có thể đoán kết quả thế nào.

Phạm Thanh thấy bọn hắn tiu nghỉu bèn nhìn Lê Lợi cười, chào ra về.

Ngày hai chín âm...

Trần Ngỗi đích thân ngồi xa giá đến bến sông.

Hôm nay, lão mặc áo cổn, đội mũ miện, thần thái phấn chấn hứng khởi lạ thường. Long bào, mũ miện của lão được các danh gia, vọng tộc, họ lớn ở Hoa Lư cho người làm gấp, mang nhiều đường nét của trang phục thời Ngô, Đinh, Lê. Đứng trước ba quân, lão nói:

“Chư tướng, ba quân nghe rõ!

“Trẫm hôm nay ra đây, trước là hỏi thăm sức lực anh em binh sĩ, sau là cùng các khanh gia đồng lòng chống giặc. Nay binh đã tinh, lương đã đủ, sĩ khí đã hùng, chẳng còn lo chi. Ý trẫm muốn cho toàn quân ăn Tết sớm một ngày, để ngày mai phát binh nghênh chiến, rửa sạch nỗi nhục dưới gót giặc phương Bắc.

“Các khanh gia, tướng sĩ hãy đồng tâm hiệp lực cùng Phạm nguyên soái, đánh Liễu Thăng, chém Mộc Thạnh, đòi lại cố đô, khôi phục chính thống họ Trần. Một trận này thắng, cơ nghiệp họ Trần lại hưng thịnh, sông núi Đại Việt lại quang minh.

“Ai dám cùng trẫm quyết chiến thì hãy hô vang một tiếng Sát Thát!”

“Sát Thát.”

Mấy người Phạm Thanh, Đỗ Cối, Nguyễn Hiệu giục quân hô vang; giám quân cầm giáo dài trợn mắt quát tháo. Lúc ấy, đám tân binh mới ngơ ngác hùa theo tiếng hịch của Trần Ngỗi.

Binh tướng Lam Sơn cũng chỉ hô hào lấy lệ, song thế cũng đủ khiến Trần Ngỗi mặt mày rạng rỡ, hăm hở cười nói.

“Bắc phạt đại nguyên soái Phạm Thanh, bước lên nghe chỉ.”

“Có thần.”

Phạm Thanh tiến lên một bước, ôm mũ giáp, quỳ gối trước đài điểm tướng. Hôm nay gã mặc bộ giáp bạc, chiến bào đỏ như máu phấp phới trong gió sông. Bội kiếm bên hông hắt ánh nắng cuối đông nhợt nhạt, nước thép càng ánh lên vẻ lạnh lẽo. Trên gương mặt Phạm Thanh là nụ cười tự tin, như thể trận thủy chiến tới đây đã nắm chắc trong tay.

“Trẫm lệnh cho khanh cầm đầu tám vạn thủy quân, sáu trăm chiến thuyền, điểm binh chọn tướng, ngày mai lập tức dong buồm đánh thủy trại giặc.”

“Thần lĩnh chỉ.”

“Tứ trấn tướng quân ở đâu?”

Đỗ Cối, Nguyễn Hiêu, Lê Tiệt, Lê Nguyên Đỉnh đồng loạt bước ra, đồng thanh hô.

“Có chúng thần.”

“Các khanh thống lĩnh bản bộ nhân mã, chuẩn bị thuyền nhỏ, chi viện cho thủy quân của Phạm nguyên soái.”

“Chúng thần lĩnh chỉ.”

“Các khanh gia hãy đồng lòng, tuân theo hiệu lệnh Phạm nguyên soái, sớm ngày khôi phục chính thống nhà Trần, đòi lại cố đô.”

“Chúng thần lĩnh chỉ.”

dã sử Thuận Thiên Kiếm (tiểu thuyết) Xuyên Không Lam Sơn
Còn lại: 5
0%