Tiểu Thuyết Dài Kỳ: Thuận Thiên Kiếm - Chương 31: Voi

Ảnh đại diện
Nghịch Tử Nhà phân tích

Trần Yên Chi gật đầu, kế theo hướng chỉ tay của Lê Lợi an tọa. Ngồi chưa ấm chỗ, cô nàng đã lên tiếng:

“Chúa công nói không sai. Bá hộ Nguyễn quả thật đã nghĩ ra được một cách phá địch. Thế nhưng do còn một vài vấn đề chưa giải quyết được, nên không chịu đến hiến kế mà thôi.”

Lê Lợi nghe vậy, cười vang, bảo các tướng:

“Ta đã nói bá hộ Nguyễn hẳn đã sớm nghĩ ra cách phá địch rồi mà! Các cậu xem, tên này vẫn thích khoe mẽ như thế, cứ phải giấu đầu lòi đuôi mới chịu.”

Các tướng bấy giờ gương mặt như sáng bừng lên, người nào người nấy giống như đều trở nên có sức sống hơn hẳn. Trần Yên Chi cảm thấy ngờ ngợ, như có gì sai sai, song không tài nào cắt nghĩa được là sai ở đâu.

Nguyễn Trãi hắng giọng ho khan:

“Mỗ cũng muốn nghe xem bá hộ Nguyễn có cao kiến gì để mà phá Liễu Thăng.”

Trần Yên Chi cũng không lãng phí thì giờ, lập tức thuật lại ý định tái hiện lại trận Như Nguyệt của Nguyễn Đông Thanh. Thế nhưng, cô nàng càng nói, sắc mặt các tướng lại càng trở nên đặc sắc.

Cuối cùng, lúc cô nàng nói đến chuyện Nguyễn Đông Thanh gặm bí, không tìm ra cách vượt sông. Lê Lợi đành phải cười trừ:

“Cậu Trãi, cậu xem, đây chẳng phải là anh hùng sở kiến lược đồng hay sao?”

Nguyễn Trãi cũng nói:

“Trãi cũng không ngờ bá hộ Nguyễn cũng nghĩ đến chuyện tái hiện trận Như Nguyệt.”

Trần Yên Chi bấy giờ cũng lờ mờ đoán được vì sao các tướng nghe cô nàng nói, sắc mặt lại biến hóa liên tục như đèn kéo quân như thế.

Tuy Đặng Dung cũng thua trong tay Liễu Thăng, tạm thời quân Hậu Trần không có cớ làm khó quân Lam Sơn nữa. Thế nhưng quân Minh dựa vào hai trận thắng, sĩ khí lên như diều gặp gió, nhất là danh tiếng của Liễu Thăng bây giờ đã như mặt trời ban trưa.

Lê Lợi nói:

“Mấy ngày trước, thượng nguồn có mảnh gỗ trôi đến, khen ngợi Liễu Thăng là ‘giao long du Giao Chỉ’. Bộ tốt trong quân nhiều người vì chuyện này mà tức giận. Nếu như không thể sớm ngày giao binh, sử dụng một trận thắng trấn an quân tâm, chỉ sợ sẽ gây nên bất mãn.”

Trần Yên Chi nghe chủ công nhà mình nói, đầu gật như gà mổ thóc.

Cảm xúc của một người là có tính đàn hồi, hơn nữa bản năng sinh tồn vốn là lấn yếu sợ mạnh. Một khi gặp phải một bức tường không thể vượt qua, cảm xúc tiêu cực sẽ bắt đầu quay đầu cắn ngược. Trước đó hận kẻ thù bao nhiêu, thì về sau lại oán đồng đội bấy nhiêu.

Quân Minh cũng không muốn chủ động đánh qua sông, sợ bị Hậu Trần đánh nửa chừng, bèn sử dụng tâm lý chiến ép quân của Lam Sơn phải ra trận.

Cũng khó trách vừa rồi các tướng mặt người nào người nấy đều như cứt ngâm.

Nguyễn Trãi bèn nói:

“Chúa công, nếu bá hộ Nguyễn cũng có ý giống Trãi, không bằng cho mời cậu ta đến cùng bàn cách phá giặc.”

Lê Lợi gật đầu:

“Cậu Trãi nói phải lắm. Ban đầu ta còn tưởng bá hộ Nguyễn bày mưu tính kế là cứ phải nhốt mình trong lều, nên mới không cho người đến quấy rầy.”

Sau đó, bèn quay sang chỗ Lê Lai, nói:

“Mau mời bá hộ Nguyễn đến đây.”

Lê Lai gật đầu một cái, cái đầu trọc bóng lưỡng và vóc người đô con, nếu xăm thêm mấy đường mực trên người chắc ai cũng tưởng là Lỗ Trí Thâm trong Thủy Hử chứ chẳng phải vị tướng từng chết thay cho chủ. Trần Yên Chi nhìn theo bóng lưng Lê Lai, lại ngó sang chỗ Lê Lợi đang ngồi, trong lòng lấy làm tò mò.

Không hiểu quân Minh nghĩ gì mà nhầm được hai người này với nhau.

***

Khi biết Nguyễn Trãi cũng có ý định giống mình, còn được Lê Lợi và các tướng công nhận, Nguyễn Đông Thanh quả thật là không dám tin vào tai mình.

Một nhân viên văn phòng quèn, chỉ đọc được mấy quyển sách sử, thế mà lại có thể nghĩ ra cùng một kế với Nguyễn Trãi. Đã vậy, còn được các vĩ nhân lịch sử, tai to mặt lớn đang ngồi trong lều công nhận.

Nguyễn Đông Thanh thực ra vốn rất mặc cảm về bản thân.

Ba mươi mấy tuổi, không mảnh tình vắt vai. chẳng làm nên trò trống gì, bố bị bệnh cũng không có tiền cứu chữa. Thành thử, trong tiềm thức, hắn luôn cảm thấy mình chỉ là một nhân vật bé bằng cái mắt muỗi, chẳng tài cán gì. Lần địa chấn độ giang là lợi dụng ưu thế biết trước của người đời sau. Về phần cái lần đi Hoa Lư, gã không coi là thành công, bởi sau đó gã kém chút thì toi mạng dưới tay của Đặng Tất.

Thành thử, lần này chiến lược được người ta công nhận, hơn nữa mạch suy nghĩ còn giống hệt với danh nhân, khiến Nguyễn Đông Thanh vẫn luôn cảm thấy lâng lâng như trong mơ.

Nguyễn Trãi dường như đoán được suy nghĩ của hắn, bèn chậm rãi bước lại gần, đôi lông mày trắng dãn ra, cặp mắt híp lại chỉ còn một đường:

“Bá hộ Nguyễn, không cần phải tự hạ thấp mình mà đề cao người khác thái quá. Dù sao... chuyện của Trần Khát Chân còn đấy. Sĩ phu muốn cậu tiếng thơm muôn đời thì cậu chính là chúa cứu thế. Sử quan muốn cho cậu di xú thiên niên thì cậu chính là Thương Trụ, Hạ Kiệt. Không cần vì một quyển sách, mấy dòng chữ mà khom lưng uốn gối như vậy.”

Một lời như đánh thức người trong mộng, khiến Nguyễn Đông Thanh không khỏi nhớ lại Đặng Dung, Trịnh Khả.

Một người được tô vẽ thành trung thần tận tụy, mài kiếm dưới trăng than thở, tuẫn quốc mà chết.

Người còn lại được nói là thống lĩnh quân Thiết Đột, lập nhiều chiến công, làm quan đến đầu triều, đánh Ai Lao hạ Chiêm Thành, quả thật là bố đời mẹ thiên hạ, công danh sự nghiệp chỉ đến thế mà thôi.

Nhưng hai con người mà hắn gặp...

Một tàn nhẫn xảo trá, chỉ chăm chăm vào đảng tranh.

Một mua danh chuộc tiếng, trong đầu ngoại trừ chiến công thì chẳng còn chứa được thứ nào khác.

Nguyễn Đông Thanh thở ra một hơi, nói:

“Không biết anh Trãi đã nghĩ ra cách hay gì để vượt sông hay chưa?”

Nguyễn Trãi đáp:

“Hồi nhỏ may mắn được đọc sách trong nhà ông ngoại, trong đó có một quyển yếu kỷ do cụ ngoại tổ Chiêu Minh đại vương để lại. Sách ghi, khi Hưng Đạo đại vương đến tắm cho Chiêu Minh đại vương, hai người từng bàn về trận Như Nguyệt. Chiêu Minh đại vương cho là đám sử gia không hiểu chuyện nhà binh ngồi nhà viết bậy, Hưng Đạo đại vương thì cho rằng ngài thái úy thật sự đã đánh qua được sông Như Nguyệt, bất chấp nguy cơ bị đối phương đánh giữa chừng.”

Nguyễn Đông Thanh càng nghe càng giật mình, cuối cùng trố mắt mà trông Nguyễn Trãi.

Gã mém chút thì quên, người trước mặt có thể nói là con ông cháu cha số một số hai cả cái trận doanh phía nam Gián Khẩu. Nếu phải so sánh, thì chỉ có Trần Nguyên Hãn, Trần Yên Chi là hơn một bậc mà thôi.

Kế, gã lại thấy tò mò...

Cuộc đối thoại quan trọng như thế giữa Trần Quang Khải và Trần Quốc Tuấn vì sao không được người đời sau chép lại?

Nguyễn Trãi nói:

“Hưng Đạo đại vương cho rằng, lúc ấy thái úy lấy quân voi làm tiên phong, trường thương thủ cầm khiên lớn bọc hậu, cung thủ dàn trận trên thuyền bắn yểm hộ. Quân voi được luyện, mặc giáp voi, càn vào doanh trại của Triệu Tiết. Quân Tống do mất hai châu Yên, Vân vào tay nhà Liêu, mạnh thủy chiến mà yếu kị binh, không thể sử dụng chiến thuật khinh kị của người Mông Cổ để tránh quân voi. Lúc này mới có chiến thắng Như Nguyệt.”

Nói rồi, gã lại yên lặng, nhìn chăm chú vào Nguyễn Đông Thanh, quan sát cẩn thận từng biến hóa trên gương mặt hắn, từ ánh mắt đến biểu cảm.

Thế rồi, Nguyễn Trãi lại hỏi:

“Bá hộ là người Lương Sơn, không lạ gì loài voi chiến. Trãi không khỏi lấy làm tò mò, chẳng rõ vì sao với trí tuệ của bá hộ mà lại không nghĩ đến chuyện sử dụng tượng binh?”

Nguyễn Đông Thanh còn đang suy nghĩ linh tinh, lúc này bị Nguyễn Trãi hỏi bất ngờ thì kém chút là “hả” một cái.

Sau đó, gã ho khan:

“Anh Trãi lại nói đùa rồi. Thanh một kẻ trọc phú nhà quê, nào đã được thấy voi chiến bao giờ? Mỗ cũng có nghĩ đến chuyện dùng tượng binh, nhưng sợ đối thủ bắn vào mắt voi, hoặc dùng lửa xua voi chạy ngược lại.”

Vừa giải thích, Nguyễn Đông Thanh lại vừa chửi bậy.

Bố hắn lúc còn sống vẫn thường hay chê tượng binh là loại quân vừa đắt, vừa tốn tiền của để duy trì, mà tác dụng lại không lớn. Theo ông, trận Bình Lệ Nguyên, trận Đa Bang thua đều vì quân voi mà ra cả. Nguyễn Đông Thanh bị ảnh hưởng từ bố, nên cũng chưa bao giờ coi trọng việc sử dụng voi chiến.

Nguyễn Trãi nghe vậy, cười dài:

“Bá hộ Nguyễn xem ra đúng là chưa từng thấy voi chiến bao giờ. Cậu không biết đó thôi, voi chiến phải được quản tượng huấn luyện từ nhỏ. Đến lúc ra trận chẳng những không sợ tiếng hò reo, chẳng ngại tên bắn, cho dù là hỏa pháo nổ cũng đừng mơ khiến chúng lùi bước. Hơn nữa, cậu đã thấy mắt voi chưa? Còn bé hơn cả mắt ngựa. Cậu cam đoan cung thủ của cậu có thể giữ bình tĩnh, bắn trúng một mục tiêu bé xíu như vậy trong lúc có một con thú to bằng cái nhà lao ầm ầm về phía mình sao?”

Nguyễn Đông Thanh bị hỏi cho á khẩu.

Gã bất giác lại phát hiện một lỗ hổng trong tư duy của bản thân.

Nếu voi chiến thực sự sợ lửa, sợ tiếng động, sợ bị bắn vào mắt, thì tại sao mãi đến thời Tây Sơn voi chiến vẫn còn xuất hiện nhan nhản trên chiến trường? Thậm chí, trong cái thời đại đạn bắn như sao sa, hỏa hổ phun lửa mịt mù, trên lưng voi cũng cõng binh sĩ dùng pháo cầm tay.

Xem ra...

Hắn cần phải thay đổi cách nhìn nhận của bản thân về quân voi.

Voi chiến sở dĩ thua trong trận Bình Lệ Nguyên, ấy là do không đánh lại chiến thuật thả diều của người Mông Cổ.

Voi chiến sở dĩ vô dụng trong trận thủ thành Đa Bang, chưa chắc đã không phải do có người cố tình đổ tội cho chúng để mà che giấu sự thật.

Nguyễn Đông Thanh lại hỏi:

“Nếu anh Trãi đã nghĩ ra cách dùng tượng binh vượt sông, thì cần gì phải đắn đo hỏi mỗ nữa?”

Nguyễn Trãi cười khổ:

“Do không có đủ voi chiến. Bây giờ đang buổi rối ren, có tiền người ta cũng không định bán. May nhờ có phúc của thái phu nhân, quân ta mới mua được năm con voi chiến, đều đang nuôi trong doanh trại.”

Lê Lợi cũng nói:

“Hơn nữa, Chu Đệ còn cho tổ chức một đội kị binh, ngựa chiến đều lấy từ tay bọn thắt bím. Chúng ta nếu sử dụng lại kế sách của Lý thái úy mà không thay đổi gì, thì chỉ có thất bại.”

Nguyễn Đông Thanh gật đầu:

“Cũng đúng. Đại Việt dưới thời Lý ít nhất là đồng lòng, nghe theo sự tiết chế của Lý Thường Kiệt. Chúng ta thì... không dám gật bừa.”

Gã không nói tiếp, nhưng trong lều ngoại trừ Lê Lai không tim không phổi ra thì ai cũng hiểu, Nguyễn Đông Thanh đang ám chỉ hai cha con Đặng Dung – Đặng Tất. Nếu Lam Sơn công cao lấn chủ, chỉ sợ hai cha con này sẽ sử dụng biện pháp mạnh, thậm chí bán đứng bọn họ.

Lê Lợi nói:

“Hai cha con Đặng Tất, Đặng Dung thì cứ để ta đối phó. Bá hộ Nguyễn, cậu Trãi, hai người chỉ cần tìm cách giải quyết vấn đề thiếu voi là được.”

Nguyễn Đông Thanh vê cằm, lúc này đột nhiên nghĩ đến một nơi...

Đa Bang!

Nguyễn Trãi từng nói, sở dĩ thành Đa Bang thất thủ là do sĩ phu kinh lộ giật dây cho quan, lại địa phương phản chiến, dâng thành cho quân Minh.

Mà quân voi của Hồ Tôn Hiến, nếu như thực sự tồn tại trong trận chiến thủ thành, thì rất có thể đã bị một vị sử gia họ Ngô lấy ra làm con dê tế thần, chịu trách nhiệm thay cho cánh sĩ phu kinh lộ.

Nếu thế...

Thì đám voi này bây giờ ở đâu?

Một bầy voi cao ba mét, nặng ba đến bốn tấn, không thể đột nhiên biến mất như thế được.

Nguyễn Đông Thanh bèn nói:

“Anh Trãi! Thành Đa Bang có voi chiến không?”

“Có. Thành này được cha con Hồ Quý Li coi là tiền đồn quan trọng để cản bước tiến của quân giặc, nên chuyển rất nhiều hỏa pháo, đạn dược, voi chiến đến.”

Nguyễn Trãi đáp.

Thế rồi, gã cũng vỗ trán:

“Ý bá hộ là muốn tìm tung tích của số voi này, bổ sung cho quân?”

dã sử Thuận Thiên Kiếm (tiểu thuyết) Xuyên Không Lam Sơn
Còn lại: 5
0%