Nguyễn Đông Thanh chưa bao giờ tự cao đến độ xem mình là một mưu sĩ chính quy.
Hắn xuất thân là một nhân viên văn phòng quèn, vì sở thích của bố mới đọc nhiều hơn người thường vài quyển sách Nho sử cũ rích. Vũ khí sắc bén nhất của hắn vẫn luôn là khả năng dự đoán một phần chiều hướng vận hành của lịch sử, và tư duy mang tính nhảy vọt về thời đại.
Luận mưu mô, luận kế sách, Nguyễn Đông Thanh không cho là mình có thể so được với bất kỳ chính trị gia nào, dù là ở thời Hồ mạt hay ở đời sau.
Thế nên...
Nguyễn Đông Thanh cũng chỉ còn cách đạo nhái... khục... học hỏi của người xưa để giúp Lê Lợi vượt qua được cửa khó này.
Dù sao, trong dòng thời gian gốc, Liễu Thăng không tham chiến ở trận Bô Cô, quân Hậu Trần cũng không cần vượt qua tảng đá lớn khó gặm này.
Trong những trận thủy chiến lớn trong sử Việt, nếu những gì sử sách Nho giáo chép lại là đáng tin, thì các trận Bạch Đằng thời Ngô, Bạch Đằng thời Trần, Rạch Gầm – Xoài Mút đều sử dụng cách đánh mai phục, dụ địch. Chiến thuật này cốt lõi ở chỗ lợi thế sân nhà và ưu thế tình báo mạnh, hai điều mà quân Hậu Trần hiện tại tạm thời không có. Thành thử Nguyễn Đông Thanh có muốn, quân của hai cha con họ Đặng cũng không học nổi.
Nghĩ đi nghĩ lại, cũng chỉ có trận đánh trên sông Như Nguyệt là phù hợp với hoàn cảnh hiện tại.
Hai quân có quân số gần như tương đương nhau, canh giữa hai bờ sông, giằng co đối đầu.
Không có kế dụ địch vào ổ mai phục, cũng không có chiêu bắt giặc trước bắt vua vô cùng ảo ma như trận kháng Tống năm 981 hay trận kháng Chiêm của Trần Khát Chân. Chỉ có giao tranh bằng đao thật, gươm thật, so đấu kỳ mưu, đọ tài thống soái.
“Sử chép Lý Thường Kiệt dùng chiêu dương đông kích tây, dụ quân của Triệu Tiết chi viện cho Quách Quỳ, sau đó dồn quân đánh trại của Triệu Tiết. Hôm ấy, tôi nói muốn dùng lại kế này để đánh bại Liễu Thăng, nhưng cô lại dội cho một thùng nước lạnh vào mặt.”
Trần Yên Chi nói:
“Binh pháp nói vậy, tôi chỉ thuật lại thôi. Anh lại bảo sách viết không có lý đi?”
“Thì có lý. Nên mới phải đau đầu nhức óc đây này.”
Nguyễn Đông Thanh cười khổ, lắc đầu.
Hôm ấy, lúc thuật lại trận Như Nguyệt cho Trần Yên Chi nghe, cô nàng đã nhắc đến một vấn đề trí mạng. Một vấn đề mà nếu như không giải quyết được, thì sẽ là dấu chấm hết cho bất kì ai dám sử dụng chiến thuật của Lý Thường Kiệt: bị đánh giữa chừng.
Bị đánh giữa chừng, hay “bán độ kích chi”, chỉ việc một phe vượt sông được nửa chừng, mới bố trí được một phần binh lực dàn trận. Lúc này, nếu phe còn lại thừa cơ mà đánh, phe vượt sông sẽ bị chia cắt, dẫn đến trận hình rối loạn. Khi thương vong đủ lớn, quân trên thuyền bị giám quân ép xuống tiếp ứng, quân ở bờ lại sợ hãi và hoảng loạn mà muốn lên lại thuyền.
Đầu rút lui, đuôi tiến tới, lưng chừng gặp nhau, rất dễ sinh ra hiện tượng tự dẫm đạp, gây nên thương vong không thể tưởng tượng nổi. Cũng giống như cái truyện ngụ ngôn hai con dê cùng đi trên một cái cầu vậy.
Chính vì nguyên do này, lần cướp bến đò trước đó, Liễu Thăng chỉ để một đội tiên phong xông pha. Các thuyền còn lại hoặc bắn yểm trợ, hoặc lấy móc kéo đổ tường đất từ giữa sông mà thôi, tuyệt không có ý định cập bờ.
Nếu không có trận động đất hồi tháng chín che chắn, quân Lam Sơn muốn qua sông chỉ sợ sẽ bị quân Minh dùng chiêu đánh nửa chừng này mà thua thảm. Thậm chí, nếu tổ chức tốt, Liễu Thăng hoàn toàn có thể để chủ lực của Lam Sơn chôn vùi ở bờ bắc, thuận thế chiếm lấy bến đò phía nam.
Nguyễn Đông Thanh thở ra, đứng dậy rót một chén nước cho Trần Yên Chi, rồi tự rót một chén cho mình. Sau khi nhấp họng, hắn mới nói:
“Sau hôm bị cô chặn họng, tôi vẫn tìm cách giải thích chiến thắng Như Nguyệt. Nhưng nghĩ mãi cũng không thông Lý Thường Kiệt dùng cách nào để đánh qua sông. Có lẽ, lại là Ngô Sĩ Liên viết bậy viết bạ chăng?”
Trần Yên Chi bưng cốc, nói:
“Sao anh không hỏi Nguyễn Trãi, hỏi chúa công? Trận Như Nguyệt đã xảy ra rồi, chứ có phải tương lai đâu mà sợ đầu sợ đuôi?”
Nguyễn Đông Thanh nói:
“Nếu như đã có phương hướng thì là một nhẽ, đằng này còn chưa ra hình ra dạng, đâu dám nói với cấp trên? Cô chưa đi làm, chắc không hiểu được đâu.”
Sâu trong linh hồn, gã vẫn luôn là một kẻ đi làm, làm công ăn lương. Những thứ như tư duy hay thói quen, cũng dựa vào hoàn cảnh mà hình thành. Nguyễn Đông Thanh cảm thấy, nếu như trình bày một “phương án” vẫn còn sơ sài lỗ chỗ thế này cho cấp trên, thì ngày hắn bị cách chức đã không còn xa.
Lúc mới đi làm, Nguyễn Đông Thanh vẫn còn là một cậu sinh viên đầy nhiệt huyết, ham học hỏi, nhiều ý tưởng, dám nghĩ dám làm.
Sau khi hỏi vài lần, nhận vài cái thông báo cho nghỉ việc qua tin nhắn, hắn cũng dần “học khôn”. Nếu chưa cầm một bản kế hoạch hoàn chỉnh trong tay, thì không bao giờ Nguyễn Đông Thanh nhiều lời nửa chữ nữa.
Trần Yên Chi không nói.
Cô nàng cũng không phản cảm gì câu nói sau cùng của Nguyễn Đông Thanh, dù sao, điều hắn nói là sự thật. Thế nhưng, cô nàng cảm thấy Lê Lợi, Nguyễn Trãi không phải kiểu người từng làm sếp, làm cấp trên của Nguyễn Đông Thanh.
Cô nàng khẽ cười, sau đó đột nhiên đứng dậy, từ phía sau ôm cổ gã, hỏi:
“Đã ăn gì chưa?”
Nguyễn Đông Thanh ngẩn người, lúc này mới phát hiện hình như từ trưa đến giờ gã chưa có gì vào bụng. Bây giờ, bị cô nàng hỏi, cái bụng gã giống như là đứa trẻ bị bắt nạt tìm được người nhà, bắt đầu kêu òng ọc biểu tình.
Trần Yên Chi cười khanh khách, nói:
“Tôi cũng chưa ăn gì. Anh qua phòng bếp, lấy một ít đồ ăn về đây đi.”
“Lúc đầu cô đâu có lười thế này? Giờ trả hàng lấy lại tiền còn kịp không?”
“Không kịp. Ai bảo anh không chịu đọc kỹ hướng dẫn sử dụng? Đi mà... Thanh... hôm nay tôi luyện binh cả một ngày, đau chân lắm.”
Nguyễn Đông Thanh độc thân ba mươi mấy năm, sao mà chịu nổi con gái làm nũng? Thế là, hắn thở dài, lóc ca lóc cóc ra khỏi lều.
Ngoài chỗ hắn ở, đã có hai binh sĩ đeo đao túc trực.
Sau khi Nguyễn Đông Thanh bị Đặng Dung chặn đường diệt khẩu, Lê Lợi bèn cử một người trong đội thân binh của mình sang, đeo đao bảo vệ gã 24/7.
Sau trận thủy chiến với Liễu Thăng, Lam Sơn binh bại, Vô Học Thái Học Sinh chửi tay bo với Đặng Dung trước mặt ba quân, Lê Lợi lại cử thêm một người nữa sang bảo vệ hắn.
Thân binh không giống như binh sĩ bình thường.
Những người này là tinh nhuệ trong tinh nhuệ, phụ trách an toàn của chủ tướng ngoài chiến trận, đãi ngộ rất cao, chỉ thấp hơn gia tướng mà thôi. Thành thử, độ trung thành của thân binh với chủ tướng cũng không phải binh sĩ bình thường có thể so sánh. Nếu binh sĩ bình thường gặp phải thương vong tới 10-20% là bắt đầu đào ngũ, thì con số này của đội thân binh có thể là 50-60%, thậm chí cao hơn.
Thế nên, Lê Lợi cắt cử thân binh của mình đến bảo vệ an toàn cho Nguyễn Đông Thanh vừa là tin tưởng, vừa là xem trọng.
Bản thân gã biết hết những chuyện này, lại càng không muốn dâng một kế sách nửa vời, thủng trăm ngàn chỗ cho Lê Lợi.
Có lẽ, đây chính là một loại lãng mạn khác của lịch sử.
***
Sáng hôm sau...
Nguyễn Đông Thanh tiếp tục nhốt mình trong phòng.
Trần Yên Chi thì mặc giáp, xách kích, vội vàng rời khỏi lều từ tờ mờ sáng.
Nhìn bóng cô nàng dần khuất sau tấm liếp, Nguyễn Đông Thanh bất giác nhớ lại lời Yên Chi kể về cảnh tượng ở thủy trại của Liễu Thăng hôm động đất. Hắn không khỏi lấy làm tò mò, không hiểu mấy người kia lấy đâu ra tinh lực để mà ngày bảy đêm ba trong cái lúc đánh nhau căng thẳng như thế này.
Đổi lại là hắn, nội việc suy nghĩ kế sách lừa gạt Liễu Thăng đã đủ khiến gã cháy hỏng cả CPU lẫn GPU rồi.
Trần Yên Chi không đến thao trường luyện binh, mà bước về phía soái trướng của quân Lam Sơn.
Trong lều...
Lê Lợi ngồi ở chủ vị, bên phải là Nguyễn Trãi, đám Lê Lai Nguyễn Xí, Bùi Bị ngồi bên trái. Thời này lấy bên trái làm quý, Nguyễn Trãi chủ động nhường lại vị trí này cho mấy vị võ tướng, âu cũng là một loại thái độ trên quan trường.
Lúc Trần Yên Chi bước vào, Nguyễn Xí đang thuật lại chiến báo cho Lê Lợi nghe.
Chẳng là tranh thủ dạo trước quân Lam Sơn đánh thắng trận Gián Khẩu, Trịnh Ngọc Thương – bà thân mẫu của Lê Lợi – cho đám thợ dệt, con hát ả đào quanh vùng ẩn vào trong thành Tây Đô. Quân Minh đóng ở Tây Đô vốn cũng không còn bao nhiêu, bấy giờ lại bị quân của cha con họ Đặng phong tỏa phương bắc, cạn lương thực. Mới đầu đám này định túa ra khỏi thành cướp phá các thôn, các làng xung quanh kiếm cái lót dạ, nhưng do tuyến đường hành quân bị tiêt lộ, trúng phục kích thua cả.
Bà Thương lại cho một ít vòng vèo lương thực, chỉ cho lối chạy qua Ai Lao, vòng về phía Đông Quan. Bọn này thấy thay vì ru rú chờ chết trong thành, chẳng bằng nhận tiền, nhận lương rồi tìm đường mà thoát, bèn lui cả. Quân Lam Sơn tranh thủ vào chiếm thành Tây Đô, các hào trưởng xung quanh đều lấy làm bất bình.
Lê Lợi gõ mặt bàn, nói:
“Chỗ mẹ bây giờ cũng phức tạp, chỉ sợ không nên điều thêm người ngựa ra bắc. Ta muốn để số voi còn lại ở trong thành, cũng coi như có cái để mẹ trấn áp một vài con chuột không biết điều. Cậu Trãi thấy sao?”
“Nếu không đủ voi, sợ là kế này khó thành.”
Nguyễn Trãi đáp, đưa hai ngón tay lên day huyệt mi tâm ở giữa hai lông mày.
Lê Lợi nói:
“Bùi Bị, cậu có cách nào kiếm thêm được voi chiến hay không? Giá cả không thành vấn đề.”
Bùi Bị đáp:
“Mỗ sẽ cố hết sức, nhưng sợ là khó. Bây giờ La Ngai đang cần dùng quân, không có thừa voi chiến. Bên Ai Lao có lẽ sẽ bán, nhưng chỉ sợ không dùng tiền bạc hay lương thực để mua được, mà phải dùng đất để đổi.”
Trần Yên Chi hắng giọng, chắp tay:
“Chúa công, chư vị, mọi người đang bàn chuyện gì vậy?”
Lê Lợi cười vang, vỗ đùi:
“Xem ra bá hộ Nguyễn lại ủ ra được một diệu kế phá địch rồi đấy. Trần tướng quân, mau ngồi xuống.”