Lời Nguyễn Trãi vang như tiếng sấm, khiến cả căn lều đều im ắng hẳn đi.
Lê Lợi, Bùi Quốc Hưng, Bùi Bị, Nguyễn Xí đều lộ vẻ trầm tư. Chỉ có Lê Lai đầu óc đơn giản là vẫn như không có chuyện gì, thản nhiên như không.
Lê Lợi nói:
“Lấy tác phong từ trước đến giờ của hai cha con này rất có thể sẽ làm như vậy. Dù sao, quân công phải chia cho người kinh lộ, đâu đến lượt đám người Thanh – Nghệ chúng ta?”
Bùi Quốc Hưng quê quán cũng ở bắc hà, nay nghe được Lê Lợi có ác cảm lớn đến vậy với hai cha con Đặng Tất, Đặng Dung thì chỉ biết cúi đầu nhìn mũi giày.
Lê Lợi thấy mọi người không ai lên tiếng, bèn tiếp:
“Bây giờ hẳn là tìm cách lấy lui làm tiến, chủ động nhường lại quyền điều phối chiến trường, để bọn hắn đánh với Liễu Thăng một trận. Trãi, theo cậu thì cha con họ Đặng so với tên Liễu Thăng hôm nay thì thế nào?”
Nguyễn Trãi nói:
“Đặng Dung dũng mãnh, lại chỉ thích hợp làm đột tướng. Đặng Tất tài năng bình bình. Trần Nguyên Hãn kinh nghiệm còn non. Trừ khi còn anh hào khác chưa xuất hiện, bằng không Trãi quả thật không nghĩ ra cách nào để Hậu Trần thắng được Liễu Thăng.”
Chiến thuật của Liễu Thăng khi đối đầu với Lê Lợi kì thực cũng không thâm ảo gì. Thậm chí, nếu không phải do Lê Lợi non kinh nghiệm thủy chiến, chỉ huy sai một nước, thì quân Minh cũng không thắng lợi vang rền đến thế.
Nhưng qua trận thủy chiến này, trên dưới Lam Sơn và cả Bùi Quốc Hưng đều e ngại Thăng ra mặt.
Đây tuyệt không phải bọn họ muốn kiếm cớ cho trận thua của bản thân mà tâng bốc đối thủ, mà thực sự thấy ái ngại trước tài thống binh của Liễu Thăng. Gã đứng ở tàu chỉ huy, nhưng vẫn có thể khống chế bốn đội tàu nhẹ linh hoạt như tay chân của chính mình.
Ban đầu, Lê Lợi phái Trần Yên Chi tấn công cánh tây, cũng có ý muốn mượn sức dòng nước, xốc thẳng vào thuyền chỉ huy của địch. Thế nhưng lại bị Liễu Thăng sớm phát hiện, hơn nữa gã còn có thể nhanh chóng điều binh, không để quân Lam Sơn thực hiện ý đồ chiến thuật. Khứu giác chiến trường mẫn cảm đến thế, tốc độ điều binh linh hoạt đến vậy, quả thật không phải hạng tào lao vớ vẩn.
Mọi người bàn bạc đến khuya, rồi tan việc...
Sáng hôm sau...
Đặng Dung dẫn Trần Nguyên Hãn làm phó tướng, Ngô Sĩ Liên làm đô sứ, rồng rắn từ Hoa Lư chạy đến Bãi Trứ.
Việc đầu tiên hắn làm, là hất hàm chỉ tay trách cứ chư tướng:
“Một tên Liễu Thăng cỏn con đã đánh các ngươi không chừa manh giáp, khiến sĩ khí quân ta chẳng còn chút nào, mặt sông cũng bị đối phương đoạt mất.”
Kế, hắn lại đến trước mặt Lê Lợi, dùng ánh mắt bễ nghễ từ trên nhìn xuống, hỏi:
“Sao? Kim Ngô tướng quân bất mãn với cha con ta, mới đánh qua loa để đối phương trục lợi? Hay ngươi dự định thông đồng với giặc? Đúng. Hẳn là thế. Người đâu! Bắt Lê Lợi về! Bản tướng quân có lí do nghi ngờ hắn cấu kết với giặc, phải thẩm vấn cẩn thận.”
Lê Lợi nghiến răng, vai run lên vì tức giận.
Nguyễn Đông Thanh không khỏi nhớ lại những gì đã thấy trong giấc mơ lần trước. Sau đó, hình ảnh Lê Lợi nghiến răng muốn kéo quân về Hoa Lư đòi một lời giải thích cho gã cũng hiện lên. Thế là, hắn đột nhiên đứng ra:
“Ui. Trông kìa. Không biết còn tưởng Đặng tướng quân là người đánh vượt qua sông, kích phá quân Minh.”
“Ngươi nói gì?”
“Nói không đúng sao? Đặng tướng quân, ta thật là nể cái khuôn mặt ngăn được cả đạn pháo này của ngài. Ngài xem lại bản thân, một tên phế vật chẳng có chút công lao nào, dựa vào cha mình ngồi lên chức thiên tướng quân, lấy tư cách gì ở đây chỉ trỏ? Tưởng mình là hề chèo sao?”
“Nguyễn Đông Thanh, đừng cho là ta không dám giết ngươi.”
“Ầy, ta đúng là thấy ngài không dám giết ta. Dù sao... Đặng tướng quân yêu danh như mạng. Bị mắng là dựa hơi cha đã đủ khiến ngài tức tối, hẳn là không muốn nhận thêm cái mác ‘khôn nhà dại chợ’, chỉ giỏi đánh quân mình đâu nhỉ?”
Nguyễn Đông Thanh ngoáy lỗ tai, dáng vẻ câng câng.
Nói đoạn, hắn lại tiếp:
“Ngài không cần ra trận đánh Liễu Thăng ‘cỏn con’ kia đâu. Lí do ta cũng nghĩ sẵn cho ngài rồi. E hèm. Quân Lam Sơn vô dụng, thua một trận to, khiến chiến thuyền quân ta không đủ. Chờ chiến thuyền làm xong, bản tướng quân chắc chắn sẽ đích thân dẫn quân đánh tan Liễu Thăng, trọng chấn hùng phong Đại Việt. Tướng quân, ngài nghe xem có hợp lý, có êm tai không? Ta có ra dáng đô sử chuyên nghiệp hay chăng? Chủ tướng sợ không dám đánh, việc của tá lại là phải lấy lí do cho thật êm tai, để người khác không biết chủ tướng nhà mình là loại gan thỏ đế. Quy tắc này ta hiểu mà.”
Đặng Dung tức muốn nghẹt thở, vừa định lên tiếng, thì Trần Nguyên Hãn đã nói:
“Bá hộ Nguyễn quả thật là nhanh mồm nhanh miệng, lời nói như kiếm sắc. Tiếc là thanh kiếm này chỉ dám chĩa về phía quân bạn, không dám đâm về phía quân Minh. Tính ra ngài bá hộ cũng chỉ là loại hủ nho chỉ biết uốn ba tấc lưỡi, lấy tư cách gì ra chỉ trích Đặng tướng quân.”
Nguyễn Đông Thanh sớm đã khó chịu tên “con ông cháu cha” này. Gã lườm Trần Nguyên Hãn một cái, kế tuôn luôn một tràng:
“Hello. How are you? I’m fine, thank you, and you?”
Thời Hồ mạt thuật hàng hải còn chưa phát triển, tiếng Anh vẫn còn là một thứ vô cùng xa lạ với người thời này. Mọi người nghe Nguyễn Đông Thanh xổ một tràng cứ xì xà xì xồ, chẳng hiểu gì cả, cứ ngơ ngác nhìn nhau.
Trần Nguyên Hãn nghe mà phát bực, nói:
“Bá hộ Nguyễn, nhà ngươi cứ lầm rầm xí xồ gì thế? Ta đứng ở đây, có bất mãn gì cứ nói thẳng là được.”
Nguyễn Đông Thanh thấy đối phương đã trúng kế, bèn cười:
“Đấy, ta dùng tiếng nước khác, nói ngươi đã không hiểu câu nào. Bây giờ ta chạy ra trước trận, dùng tiếng Việt chửi người Minh thì mắng cho chó nó nghe à? Còn tưởng cháu quan tư đồ ra sao, hóa ra là thằng đần.”
Gã dùng đúng văn mẫu mà Trần Nguyên Hãn từng nói mỉa mình để chửi đối phương, khiến đỉnh đầu gã tưởng như bốc khói.
Hắn thẹn quá hóa giận.
Thân phận khiến Trần Nguyên Hãn từ lúc ra đời đã được muôn người chú ý, là tâm điểm của mọi cuộc nói chuyện. Sĩ phu các lộ, quan lại trong triều, đều cả nể nhường nhịn, giúp hắn nổi danh.
Cháu của tư đồ Trần Nguyên Đán, tựa như con cưng của trời.
Nâng như nâng trứng, hứng như hứng hoa.
Bây giờ, bị một tên bá hộ quèn đất man di chỉ vào mũi mà mắng là “đầu đất”, Trần Nguyên Hãn há lại nhịn được?
Đây chẳng những là sỉ nhục...
Mà còn là chà đạp, vùi dập lên những thứ hắn dùng để định nghĩa bản thân. Sự ưu việt về xuất thân, sự cao quý về huyết thống, hết thảy đều bị sự tồn tại của Nguyễn Đông Thanh và những lời hắn nói dí xuống đất mà chà sát.
Trần Nguyên Hãn muốn nổi xung.
Thế nhưng, lúc này Bùi Bị, Lê Lai cùng tiến lên một bước, một trái một phải bảo vệ Nguyễn Đông Thanh.
Trần Nguyên Hãn biết hai người này.
Một là một kẻ đần, không biết cái gọi là “cẩn trọng”, cũng sẽ không e ngại thân phận của gã.
Một là một tên man di Chiêm Thành, lại càng không cần nói đến cái gọi là xuất thân, là thế lực.
Trần Nguyên Hãn tin chắc nếu hắn dám hành động lỗ mãng, hai thằng cha này sẽ lập tức đánh hắn. Cho dù đứng sau hắn là Đặng Dung, cho dù thân phận của hắn là tân tinh của hào kiệt kinh lộ, thì cũng không ngăn được quả đấm của hai người này.
Thế là, Hãn rén.
Hắn hừ lạnh một tiếng, nói:
“Trí giả bất luận tiểu nhân chi tranh.”
Nguyễn Đông Thanh gật đầu, giơ ngón cái:
“AQ đại pháp! Lợi hại!”
Lỗ Tấn còn phải năm trăm năm nữa mới ra đời, thành thử ở đây trừ Trần Yên Chi chắc hẳn là chẳng ai từng đọc “A Quy chính truyện” bao giờ. Trần Nguyên Hãn không hiểu “AQ đại pháp” mà Nguyễn Đông Thanh nói đến là gì, bèn không để ý nữa.
Đặng Dung nói:
“Bá hộ Nguyễn miệng lưỡi lanh lợi, hùng biện hơn người. Chuyện Lê Lợi ta sẽ không truy cứu nữa. Nhưng quân Lam Sơn đánh thua là sự thật giấy trắng mực đen, bắt buộc phải có một câu trả lời thỏa đáng. Từ nay, chiến trường Gián Khẩu sẽ do Đặng mỗ quản lý, các vị đều phải nghe ta tiết độ, không có vấn đề chứ?”
“Chuyện này không thỏa đáng. Nếu ngài đánh thua Liễu Thăng rồi đổ vấy trách nhiệm cho chúng ta thì phải làm gì bây giờ? Đặng tướng quân, xét cho cùng thì ngài cũng chỉ cần một con dê thế mạng, một con bù nhìn để ngài trút bỏ trách nhiệm. Nói trắng ra là sợ thua. Ta nói đúng không?”
Nguyễn Đông Thanh lại nói.
Hắn còn chưa quên dáng vẻ chán chường, tuyệt vọng của Lê Lợi, Nguyễn Trãi trong giấc mơ chân thật kia.
Đặng Dung bị nói trúng ý đồ, cau mày hỏi:
“Thế bá hộ Nguyễn muốn gì?”
“Đơn giản thôi. Quân giặc tuy thắng, nhưng thuyền chiến cũng bị quân ta đánh phá không ít. Đặng tướng quân điều một số thuyền Mông Đồng, thuyền nhỏ từ Tràng An ra chiến trường hẳn là vẫn có thể chiến một trận nữa. Chỉ cần ngài chứng minh mình có thể thắng Liễu Thăng, chứng minh thất bại lần này là Lam Sơn vô dụng, thì chúng ta xin nghe ngài chỉ huy. Còn không thì... chẹp... người khác ta không dám nói, nhưng thằng Thanh này sẽ không phục một tên phế vật mượn hơi cha.”
Nguyễn Đông Thanh nhún vai, nói gằn từng chữ một.
Binh lính, tướng sĩ liên quân Lam Sơn đứng nhìn mà ai nấy đều đổ mồ hôi ròng ròng thay cho hắn.
Lúc này, vị Vô Học Thái Học Sinh này chẳng khác nào đang nhảy múa không ngừng trên rừng đao, điên cuồng khiêu chiến giới hạn cuối cùng của Đặng Dung.
Đặng Dung cười gằn, ghé tai hắn:
“Cho dù ta thực sự làm vậy, Lê Lợi cũng chẳng làm gì nổi quân ta. Nhưng được thôi, ta sẽ cho nhà ngươi thấy Đặng Dung này tuyệt đối không phải hạng dựa hơi cha.”
“Thế thì Thanh chống mắt chờ xem tướng quân biểu diễn.”
***
Hôm sau...
Đặng Dung ra trước ba quân điểm binh.
Gã vác thanh kiếm Long Tuyền trên vai, đi cùng có Trần Nguyên Hãn, Phạm Ngũ Thư, và Ngô Sĩ Liên. Vừa bước đi, Đặng Dung vừa cao giọng tuyên bố:
“Ngày mai Nguyễn Cảnh Dị tướng quân sẽ dong thuyền từ phía nam sông Vạc đến để quân ta sử dụng. Hôm nay Đặng mỗ điểm binh xuất trận, ai được đọc đến tên thì chuẩn bị sẵn sàng. Nếu dám đến chậm, đừng trách Đặng mỗ xử theo quân pháp.”
Quân đội dưới tay gã dạ ran, âm thanh vang vọng cả khúc sông rộng.
Lần này, Đặng Dung mang hơn năm ngàn quân từ Hoa Lư ra, tên nào tên nấy đều là lão binh dày dạn kinh nghiệm, theo Đặng Tất từ lúc trấn thủ Hóa châu.
Điểm hơn mười cái tên, Đặng Dung mới ngoái đầu sang chỗ quân Lam Sơn đang đứng, cười như không cười:
“Ngoài ra, Đặng mỗ còn muốn mượn Lam Sơn một đột tướng để dùng.”
Nghe gã nhắc đến bên mình, Lê Lợi lập tức lộ vẻ cảnh giác. Nguyễn Trãi giấu bên trong đám người cũng dùng ánh mắt cẩn trọng, đánh giá một lượt mấy người Đặng Dung, Trần Nguyên Hãn, Ngô Sĩ Liên.
Không đợi phe Lam Sơn kịp phản ứng, gã đã nói tiếp:
“Trần Yên Chi đứng ra nghe lệnh!”
Nguyễn Trãi bèn lặng lẽ đến gần Nguyễn Đông Thanh, nhỏ giọng:
“Bá hộ Nguyễn. Nghe nói lần trước ở bãi sậy tên Đặng Dung này cũng có ý lôi kéo chị nhà. Bây giờ lại công khai cướp người trước bàn dân thiên hạ. Ài... Chỉ sợ là có ý khác.”
Nguyễn Đông Thanh nói:
“Biết. Cậu Trãi lập sẵn bài vị, chuẩn bị sẵn cho mỗ một khoảnh đất đẹp, rồi xem ta mắng chết hắn!”
Gã vừa mới xắn tay áo, định bước lên, thì bên cạnh đã có tiếng nói chặn trước:
“Chuyện này không thỏa đáng, thứ cho Chi không thể phụng mệnh tướng quân.”
Sau đó, bên tai gã vang lên tiếng nói thầm của Trần Yên Chi:
“Thanh, đủ rồi. Nếu còn chọc giận bọn chúng, chúng sẽ giết anh thật đấy. Chuyện lần này để tôi tự giải quyết!”
Đặng Dung đứng trên đài điểm tướng, nghiêng đầu, hỏi:
“Trần tướng quân có ý gì? Lam Sơn không muốn xuất lực đánh giặc? Hoặc là nói, Kim Ngô tướng quân của các người sớm đã cấu kết với giặc từ trước? Chuyện đánh sang bờ bắc, chẳng qua cũng là một giao dịch các ngươi thỏa thuận từ trước, hòng mạo nhận công huân?”
Trần Yên Chi đáp:
“Đặng tướng quân. Bản lĩnh ngậm cứt phun cây của ngài vẫn kém như vậy, đến lí do cũng ấu trĩ vô cùng. Thứ nhất, bản tướng quân vừa đánh một trận ác chiến, thương còn chưa lành hẳn, ngài đã ép ta lên chiến trường há chẳng phải giơ vết thương ra cho giặc xát muối? Được. Bản tướng quân nghe ngài cũng không sao, nhưng lấy thân tàn xuất trận, bị đối phương bắt được sơ hở, bại cả cuộc chiến thì thế nào? Ngài sẽ không mượn đấy làm đổ tội chiến bại lên đầu ta chứ?”
Đặng Dung sa sầm mặt, đang muốn nói gì đó, thì Trần Nguyên Hãn đã chen ngang:
“Chuyện này đúng là Đặng tướng quân suy nghĩ còn chưa chu toàn. Thế nhưng, Trần tướng quân chị thân là tông thất họ Trần, là chị họ của ta. Thân phận của chị đặc thù, thiết nghĩ không nên tùy tiện theo một cánh quân... như vậy. Chi bằng để chị Chi chuyển đến quân của quốc công làm tướng quân, trực tiếp nghe điều lệnh của bệ hạ thì hơn.”
Dường như không biết phải dùng tính từ nào để miêu tả quân Lam Sơn, thế nên hắn dừng lại một lúc mới rặn ra hai từ “như vậy”. Song, cái sự coi khinh rẻ rúng kia thì ai cũng nhìn ra được.
Lập tức, trên từ mấy người Lê Lợi, Lê Lai, Nguyễn Xí, Bùi Bị, dưới đến cánh hỏa đầu, công binh đều cảm thấy bị nhục nhã ghê gớm. Tướng lĩnh còn miễn cưỡng nhịn, giữ được bình tĩnh, chứ binh lính phần nhiều đã bắt đầu nổi đóa. Nhất là sau lần “mở mồm thả rắm” của Nguyễn Đông Thanh, nhiều kẻ còn ôm một bụng lửa giận không chỗ phát tiết. Bây giờ Trần Nguyên Hãn mở miệng, quả thật không khác gì chọc vào ổ kiến lửa.
Trần Yên Chi hắng giọng, nói:
“Cậu Hãn nói không phải không có lý, nhưng lại biết một mà không biết hai. Nếu ta mà nghe lời cậu, đầu quân cho Đặng quốc công thì mới là không ổn.”
“Mỗ rửa tai lắng nghe.”
“Ta và bá hộ Nguyễn đã ngủ chung một chỗ, có tiếp xúc da thịt. Tuy vì chiến trận mà còn chưa chính thức cưới gả được, nhưng cũng xem như nửa con dâu của nhà họ Nguyễn. Cậu Hãn học cao, hẳn là biết cái gọi là ‘tam tòng’, đúng không? Chi nếu bỏ trượng phu lại, chạy đến đầu quân cho tên đàn ông khác, thử hỏi coi sao được?”
“Cô... không biết liêm sỉ.”
“Phải phải. Vẫn là kẻ đọc sách các người thanh cao. Trong mắt những người như các người, phận đàn bà như ta phải đi chết để giữ hai chữ ‘tiết hạnh’ mới là đúng, còn sống trên đời lại là sai. Mẹ nó, cũng không phải mạng của mình, đương nhiên là các ngươi không quý. Cậu Hãn học cao, thử nói xem lúc quân Minh áp cảnh, có bao nhiêu kẻ có học thức quỳ gối xin hàng, sống mòn ở đời?”
Trần Yên Chi là người hiện đại, đương nhiên là không trúng chiêu “ép buộc đạo đức” của Nho giáo. Trần Nguyên Hãn bị cô nàng nói cho á khẩu, nhưng ngoại trừ chửi Trần Yên Chi là lăng loàn thì chẳng biết nói gì khác.
Nho giáo ngày xưa phần lớn cũng là cái đức hạnh này...
Thời bình bốc phét thì chẳng thua ai, ông nào cũng là bố đời cha thiên hạ.
Thời loạn một cái, ối chà, kẻ nhận quan tước vẫn nhận quan tước, người xin hàng vẫn cứ xin hàng. Dù sao quyền giải thích nằm trong tay bọn họ, dư luận bị họ bắt ngay cổ, còn ai dám nói được gì?
Trần Nguyên Hãn thất trách là ở chỗ, không ngờ đến lại xuất hiện một kẻ dám phản bội lại giai cấp của chính mình như Trần Yên Chi.
Kể từ đó trở đi...
Thanh danh của Trần Yên Chi bị năm tấc lưỡi của đám nhà Nho làm cho thối hẳn.
Hai câu “đãng phụ phối thất phu, con đĩ lăng loàn theo phú ông thất học” sẽ lan ra khắp các huyện, các quận, các lộ, các phủ.
Nhưng những chuyện ấy đều là chuyện tương lai.
Ngày thứ hai sau khi Đặng Dung điểm tướng, Nguyễn Cảnh Dị ngồi một đội thuyền hơn trăm chiếc từ Tràng An ngược dòng lên Bãi Trứ.
Đặng Dung phân phối các tướng, lấy Trần Nguyên Hãn làm tả tiên phong, Nguyễn Suý làm hữu tiên phong, cùng xuống sông khiêu chiến Liễu Thăng.
Trống trận nổi, gió sông thổi…
Quân Minh dàn chiến thuyền, bày trận nghênh đón quân Hậu Trần.
Liễu Thăng tiếp tục nắm ấn soái, lấy Lưu Tuấn, Lưu Dục làm tả hữu tiên phong. Quân Minh vừa thắng một trận, sĩ khí đang nổi, mặt kẻ nào kẻ nấy đều hứng chí bừng bừng.
Mặc dù chỉ trích Nguyễn Đông Thanh chỉ biết dùng miệng lưỡi mắng đồng minh, nhưng đến khi lên chiến trường, mặt đối mặt với quân Minh, Trần Nguyên Hãn cũng không làm chuyện lãng phí nước bọt như chửi bới nhục mạ đối thủ làm gì cả. Hắn xoa hai bàn tay vào nhau, háo hức chờ đợi quân lệnh của Đặng Dung.
Hai bên bắt đầu giao chiến.
Đặng Dung chia đội tàu làm ba, bao gồm tả quân – hữu quân – và trung quân. Mỗi quân lại phân làm ba đội tiền – trung – hậu, liên lạc với soái hạm bằng thuyền con. Ngoại trừ trung quân do đích thân Đặng Dung tọa trấn, trọng trách thống lĩnh hai cánh còn lại được giao cho Trần Nguyên Hãn và Nguyễn Súy.
Dung tự tay đánh trống trận, lại nói:
“Truyền lệnh của ta, ba quân bất động, đón đánh quân Minh.”
Tướng sĩ dạ ran, sau đó cho lính leo thuyền nhỏ, chèo về phía hai cánh.
Suy nghĩ của Đặng Dung rất đơn giản, cũng rất thực tế.
Hắn và Lam Sơn đánh cược với nhau, vậy thì hắn chỉ cần cố thủ phòng tuyến, quân Minh không công phá được thì coi như là ngang tay. So với quân Lam Sơn thảm bại trong tay Liễu Thăng, thì chiến quả “bất phân cao thấp” này rõ ràng đã hơn đối phương một bậc.
Đến lúc đó, hắn phải cho Nguyễn Đông Thanh biết vì sao nước biển lại mặn.
Chủ động xuống nước khiêu chiến, sau đó lại lựa chọn cố thủ, hiển nhiên là không vẻ vang lắm. Thế nhưng Đặng Dung mặc kệ. Binh bất yếm trá, miễn thắng là được, có trách thì trách quân Lam Sơn ngu xuẩn không phát hiện hắn sẽ dùng mánh khóe.
Hai người Nguyễn Súy, Trần Nguyên Hãn có phản ứng hoàn toàn trái ngược.
Nguyễn Súy không phải kẻ quả cảm gì, thấy không cần xông trận thì âm thầm thở phào một hơi, lại lệnh thuyền nhỏ truyền tin cho ba quân phải thủ vững phòng tuyến. Kẻ nào dám tùy tiện tiến công thì xử phạt theo quân pháp.
Trần Nguyên Hãn lại khác.
Hắn nghe Đặng Dung quyết định cố thủ, hậm hực dậm chân mà nói:
“Đặng tướng quân thật hồ đồ! Trước khiêu chiến, sau cố thủ, há không khiến đám giặc Ngô chê cười người nước Nam đều là hạng hèn nhát sao?”
Phạm Ngũ Thư nói:
“Hãn, đánh trận không phải như trò suy diễn trên giấy, đừng có tùy hứng.”
Trần Nguyên Hãn lại bĩu môi:
“Tướng ở bên ngoài có thể không nghe lệnh vua. Hà huống, coi như ta tự tung tự tác thì sao? Hai cha con họ Đặng còn trông vào ta lấy lòng thế gia vọng tộc kinh lộ, chẳng nhẽ còn dám giết ta không bằng?”
Phạm Ngũ Thư nhún vai, không nói câu nào nữa.
Trần Nguyên Hãn hắng giọng, hạ lệnh:
“Các ngươi giữ vững trận thế, chờ bản tướng quân ra lệnh thì lập phản công, dong thuyền đánh thốc vào quân giặc.”
Chiến tranh không giống với trò chơi điện tử, click chuột gõ phím là có thể khống chế cả đội quân mấy vạn người răm rắp nghe lệnh.
Một đội quân nhìn như một chỉnh thể, thực ra là một tập hợp của vô vàn cá nhân, vô vàn cái tôi. Mỗi một con người lại có động cơ lợi ích, mục đích của riêng mình. Thành thử, thống soái có thể điều khiển quân đội như cánh tay đã ít lại càng thêm ít.
Hiển nhiên, Đặng Dung không phải thống soái có thể đè được cái tư tâm của thuộc hạ xuống, dù chỉ trong thoáng chốc. Mà Trần Nguyên Hãn – đứa con cưng của trời được hào kiệt kinh lộ cả nể nhường nhịn – cũng không có ý định đứng dưới kẻ khác mà nghe lệnh hành sự.
Thế cuộc biến đổi chỉ trong chớp mắt...
Phía chiến trường đối diện, Liễu Thăng hạ lệnh cho hai người Lưu Tuấn, Lưu Dục đánh mạnh vào trận thuyền đang chờ sẵn của quân Trần.
Thuyền chiến va chạm, chòng chành bấp bênh. Quân Hậu Trần do Đặng Dung mang ra tuy đều là tinh anh trải qua nhiều trận chiến, nhưng xuất thân ở vùng Hóa Châu nhiều núi cao mà ít sông rộng.
Thành thử, lúc chiến thuyền va chạm, nhiều kẻ đứng không vững, ngã nghiêng đổ ngửa. Quân Minh thừa cơ lấy dây móc giữ hai thuyền, túa sang mà đánh.
Quân Trần dựa vào kinh nghiệm chiến trường, lấy lại thăng băng, vung đao kiếm mà đánh trả. Trên thuyền hỗn loạn, phản công của binh sĩ Hậu Trần không quá hiệu quả, song vẫn hơn là đứng im mà chịu.
Từng cái thây người bị quăng xuống sông, từng con thuyền vốn còn chở đầy sinh mạng dần dần hóa thành thuyền không. Nếu không có tâm lỹ vững vàng, chỉ sợ là không thể nào chịu nổi cảnh gió tanh, sóng máu này.
Trần Nguyên Hãn dọc đường nhìn cảnh xác người, lại thường đàm luận việc binh với cánh sĩ phu đọc sách, tưởng là đã quen. Thế nhưng chiến trường máu lửa, khí túc sát đập vào mặt từng đợt từng đợt, hắn lại thấy chùn chân run rẩy, sống lưng cũng từ từ lạnh toát.
Lưu Dục cưỡi thuyền tiên phong, chẳng mấy chốc đã chiếm được thuyền của quân Trần, giết sạch binh tốt trên đó. Hắn nheo mắt lại, trong con ngươi độc nhất lóe ra ánh tàn nhẫn. Kế giương cung, nhắm chuẩn về phía thuyền của Hãn mã phóng tên.
Trần Nguyên Hãn còn đang nhìn chằm chằm chiến trường, thì một mũi tên đã vọt tới, cắm vào cổ họng lính giữ cờ. Người nay buông tay, bịt lấy cổ mình, ú ớ không kêu được một tiếng. Máu tươi đỏ lòm chảy lênh láng qua các kẽ ngón tay.
Phạm Ngũ Thư phản ứng nhanh nhất, nhào đến giữ chặt ngọn soái kỳ, không để cờ đổ xuống.
Quân Hậu Trần dù sao cũng là lính lâu năm, tố chất tâm lý vững hơn quân Lam Sơn nhiều. Phạm Ngũ Thư giữ được soái kỳ, ổn định lòng người, lính Hậu Trần cũng nhân đó từng bước từng bước làm quen với chiến trận trên sông.
Quân Lưu Dục tuy ban đầu chiếm được thế hơn, nhưng dần dần chênh lệch này đã bị chênh lệch về chất lượng lính khỏa lấp.. Lính Hậu Trần dong thuyền đâm vào trận địch, ném móc, leo lên thuyền của đối phương mà lăn xả vật lộn. Tràng cảnh hỗn loạn đến cực điểm, người chết như rươi.
Có lẽ, Lưu Dục cũng tự hiểu lính dưới tay mình không bằng quân Hậu Trần, mới dùng cung bắn lính giữ cờ, hòng chuyển bại thành thắng. Thế nhưng, tính toán của hắn đã thất bại.
Đội tả quân của Hậu Trần như một mũi dùi, đục thẳng vào quân trận của quân Minh. Lưu Dục vừa chỉ huy, vừa cổ vũ, vừa vung đao chém giết. Quân Trần tràn lên hết lớp này lại đến lớp khác, hung hãn dữ tợn, chẳng mấy đã chiếm được quyền chủ động trên chiến trường. Thương vong của quân Minh càng lúc càng lớn, thuyền chiến bị chiếm lấy cũng càng ngày càng nhiều. Nếu không phải có Lưu Dục làm gương chiến đấu, dũng mãnh cáng đáng ở tuyến đầu, thì cánh phải của quân Minh có lẽ sớm đã bại như núi sạt đất lở.
“Bỏ qua hắn! Vòng ra sau! Tấn công thuyền giặc!”
Trần Nguyên Hãn chỉ ngón tay, dậm chân mà quát khản cả giọng. Lính liên lạc bị phái ra hêt người này đến người khác, thế nhưng quân lính Hậu Trần đều bỏ ngoài tai. Toàn bộ chiến trường, ngoại trừ Phạm Ngũ Thư và cánh thư tá, không ai nghe lệnh của Trần Nguyên Hãn cả.
Chuyện này âu cũng là lễ thường...
Trần Nguyên Hãn biết rằng chỉ cần bỏ qua cục xương Lưu Dục, gặm hết thịt xung quanh, thì hắn sẽ trở thành một cánh quân đơn độc. Cho dù dũng mãnh đến mấy thì người thật bằng thịt bằng xương cũng không phải loại anh hùng Nho gia vẽ nên bằng bút mực, chống đỡ lâu cũng bại.
Nhưng binh lính mặc kệ...
Giết đám lính quèn thì được bao nhiêu quân công? Bao giờ mới được đổi đời? Bao nhiêu cái tai người mới đổi được một mảnh ruộng xấu, thóc giống trâu mộng?
Nhưng... cái đầu của Lưu Dục thì khác.
Chỉ cần giết được hắn, thì sẽ đổi đời, thì sẽ có cách nuôi sống gia đình.
Thế nên, tất cả binh lính đều mang tâm lý “để mấy thằng ngu thi hành quân lệnh của tướng quân, còn ông đây săn tên Lưu Dục”.
Loại tình huống này, nếu đổi lại một thống soái có uy tín, có địa vị, có tiếng nói trong quân thì có thể giải quyết được. Thế nhưng Trần Nguyên Hãn dựa vào xuất thân mà thăng quan như ngồi tên lửa, tấc công chưa lập, chưa từng ở chung cùng lính lác ba tháng nửa năm. Binh lính cũng là người, cũng có suy nghĩ của mình, lấy lí do gì mà phải nghe lời Trần Nguyên Hãn?
Chỉ vì hắn họ Trần? Chỉ vì hắn xuất thân sĩ phu kinh lộ?
Trần Nguyên Hãn thấy quân đội không nghe chỉ huy, dậm chân mà mắng:
“Đám nít ranh, không xứng cùng bàn chuyện lớn!”
Quân đội... cuối cùng cũng là một tập hợp của vô vàn cá nhân.
Trần Nguyên Hãn sở dĩ có thể nhìn khắp toàn cục, ấy là vì kết quả của toàn bộ chiến trường, thậm chí toàn bộ chiến dịch, mới là thứ ảnh hưởng đến công lao của hắn. Hắn lúc này như một nhà đầu tư lớn, chơi với những con số chục tỷ, trăm tỷ, há lại để ý đến mấy triệu bạc?
Hắn trách binh lính không có cái nhìn toàn cục, nhưng lại không hiểu một việc hiển nhiên. Đối với binh lính, cái bánh chiến dịch, chiến trường quá lớn, bọn hắn không có tư cách ngồi vào bàn chia phần. Như vậy, thì không bằng tranh thủ kiếm một món, sau này giải ngũ về làm ông nhà giàu.
Cái đầu của Lưu Dục là một đường tắt dẫn đến ước mơ làm ông nhà giàu của bọn hắn.
Đáng tiếc, tấm vé đổi đời này chỉ có một.
Sư nhiều, cháo ít, chim chết vì ăn, người chết vì tiền chính là vậy. Không phải binh sĩ không biết Lưu Dục dũng mãnh, cũng không phải bọn hắn không đủ thông minh để nghĩ đến chuyện để người khác lên trước, tiêu hao thể lực của địch, mình đi sau trục lợi.
Nhưng, mấy trăm ông sư tranh một cái oản, ai dám khẳng định mình sẽ là kẻ đầu cơ thành công?
Nếu lúc này không tranh giành, chỉ sợ sẽ hối hận cả đời.
Cánh đông, quân của Nguyễn Súy lại gặp tình huống vừa tương tự, vừa trái ngược.
Không phải lí do nào khác, mà là Lưu Tuấn bại trốn.
Quân Minh ở cánh đông chiến đấu bạc nhược, vừa bắt đầu đã bị đâm thủng mất mấy cái thuyền chiến. Lưu Tuấn đánh chết mấy tay cao thủ trong quân Hậu Trần, sau đó dẫn đoàn thuyền xuôi về hướng đông, mượn thế nước thuận mà chạy. Nguyễn Súy hạ lệnh cho lính liên lạc, yêu cầu toàn quân giữ vững trận thế. Thế nhưng binh lính tham công, không nghe chỉ huy xuôi dòng nước mà đuổi. Nguyễn Súy không còn cách nào khác, đành phải quay về trung quân chờ lệnh.
Cánh tây bị kiềm chế, cánh đông bị dụ đi, trung quân Hậu Trần gần như mở toang trước mặt Liễu Thăng.
Lúc này, Liễu Thăng chỉ huy thuyền chiến lớn, tự mình dẫn đoàn đánh vỗ mặt. Một nửa thuyền từ hậu đội của cánh quân phía tây dưới tay Lưu Dục lúc này đột nhiên tách ra, lao về phía trung quân của Hậu Trần. Nhìn kỹ mới phát hiện đấy đều là các loại hỏa thuyền, tỉ như tử - mẫu thuyền quân Lam Sơn từng dùng, hoặc loại xuồng con trên chất đầy củi, dầu. Quân của Thăng đứng trên mạn thuyền, dùng ưu thế độ cao phóng tên cháy, lấy sào dài điều khiển hỏa thuyền xuôi theo hướng đông – nam.
Quân Hậu Trần chia làm ba phòng tuyến, lúc này vòng ngoài đã bị hỏa thuyền đục thủng, tán loạn nháo nhác. Lửa cháy ngùn ngụt, khói bốc mù trời, khiến người ta đứng cách đó mười mấy mét cũng ho khùng khục, chỉ muốn cắm đầu nhảy xuống sống cho đỡ nóng.
Đặng Dung vừa muốn điều binh chống đỡ, thì đã nghe sau lưng có tiếng nói:
“Bà con cô bác đây đều là người châu Hoan, châu Thuận, cần gì phải bán mạng cho hai cha con họ Đặng?”
“Bà con chẳng nhẽ muốn thấy cảnh người Thuận châu, Hoan châu, Diễn châu chúng ta đổ máu, rơi lệ, chỉ để đám người kinh lộ hưởng hết công lao, phong hầu bái tướng hay sao?”
“Bọn người kinh lộ đã bao giờ coi chúng ta là con người?”
“Quân Lam Sơn đánh vượt qua sông Gián Khẩu, hạ Cổ Lộng, bại Liễu Thăng. Kết quả thì sao? Vừa thua một trận đã bị cướp binh quyền! Vừa bại một lần đã bị nghi là cấu kết với giặc!”
...
Âm thanh truyền khắp các doanh, khiến toàn quân hỗn loạn tưng bừng.
Quân Hậu Trần tuy theo Đặng Tất, Đặng Dung đã lâu, thế nhưng trừ tầng lớp sĩ quan, phần lớn binh sĩ đều được chiêu mộ ở Hóa châu. Bây giờ đột nhiên có người nhắc đến Lê Lợi và quân Lam Sơn bị đối xử tệ bạc, thoáng chốc ai nấy đều có cảm giác “thố tử hồ bi”.
Đặng Dung nghiến răng, nói:
“Nổi trống, thu quân!”
Kế, hắn cúi đầu, ghé sát tai Nguyễn Cảnh Dị mà rít từng chữ qua kẽ răng:
“Cho giám quân tìm cho kì được kẻ dám lên tiếng nhiễu loạn quân tâm, tru di tam tộc.”
Trung quân của Đặng Dung rút lui, quân của Nguyễn Súy đã đuổi theo Lưu Tuấn. Sợ bị bao vây, Trần Nguyên Hãn cũng vội vàng sai lính liên lạc lệnh các thuyền rút lui, chính gã thì cho thuyền của mình nhanh chóng chạy về bến đò phía nam, chẳng quan tâm quân lính dưới trướng có nghe lời hay không.