“Chư vị, sinh ra là nam nhi, mới bại một trận mà đã mất hết đấu chí rồi sao? Chúng ta mới thua một trận, sống lưng các vị đã bị Liễu Thăng đánh gãy rồi sao?”
Nguyễn Đông Thanh ngồi xổm trước ba quân, ngón tay móc mũi, dáng vẻ hoàn toàn không có chút dính dáng nào đến hai chữ “trí giả”. Ba quân nghiến răng trèo trẹo, nhưng lại không ai động thủ.
Bùi Quốc Hưng quát:
“Bá hộ Nguyễn, đủ rồi! Cậu thấy hiện giờ còn chưa đủ loạn sao?”
“Loạn? Nếu vậy thì mỗ đã bớt lo. Bùi tướng quân thử nhìn quanh một lượt, xem binh sĩ của mình dám nổi loạn sao? Mặt tên nào tên nấy như cứt ngâm, mẹ nó mới thua có một trận đã vậy, sau này lên chiến trường thế nào được?”
Nguyễn Đông Thanh hùng hùng hổ hổ, nước bọt văng tung tóe.
Gã chỉ vào mũi ba quân, mắng:
“Ngươi! Ngươi! Còn có ngươi nữa! Thua một trận thì sao? Thua rồi thì cút về nhà cày ruộng, rúc xuống gầm giường chờ mẹ dỗ, vợ bênh à? Liễu Thăng có tài không? Có! Nhưng hắn có tài thì không đánh nữa à? Cam tâm dâng đất cho hắn à? Chấp nhận khom lưng uốn gối cho hắn à? Đến lúc quân Minh bắt nam làm phu, nữ làm kỹ, thì đừng có trách ta không nói trước!”
“Ngươi nói thì hay lắm.”
“Ai đó!”
“Ta nói ngươi đấy! Đồ thư sinh chỉ biết đàm binh trên giấy! Lúc chúng ta vẩy máu nóng, đổ mồ hôi thì nhà ngươi ở đâu? Chỉ biết trốn ở hậu phương! Ngươi đánh với quân Minh sao? Ngươi từng đối mặt với Liễu Thăng sao?”
Một kẻ tiểu binh càng nói càng tức, cuối cùng đứng thẳng ra khỏi hàng, chỉ vào mũi Nguyễn Đông Thanh mà mắng.
“Trần tướng quân chửi chúng ta, chúng ta nhận. Lê soái chửi chúng ta, chúng ta cũng nhận. Các vị Bùi tướng quân, Lê tướng quân, thậm chí là Nguyễn tiểu tướng quân chửi chúng ta chúng ta cũng chấp nhận! Chỉ có ngươi... một tên cuồng sinh chỉ biết há mồm, lấy tư cách gì chửi chúng ta?”
“Đúng! Chúng ta đánh! Chúng ta liều tính mạng! Tên chỉ biết trốn ở hậu phương như ngươi thì hiểu cái gì?”
Nguyễn Đông Thanh nghe người ta chửi, nhảy choi choi như con gà dù, mặt đỏ tía tai:
“Tốt! Giờ biết chửi rồi đúng không? Sao? Có dũng khí chửi ta, thì có dám lấy nó ra đối mặt với quân Minh không? Dám ngay mặt chửi Liễu Thăng hay không?”
Không một ai đáp lời.
Hiển nhiên, ai cũng lấy làm sợ quân Minh.
Nếu trước đó, loại cảm xúc tiêu cực này chỉ là một sự e dè vô căn cứ, thì hiện tại, trận thua trên ngã ba Gián Khẩu chẳng khác nào ấn chứng tính hợp lý của nó. Lúc này, nỗi sợ quân Minh như sợ hổ dữ đã bắt đầu lan tràn, lòng e ngại Liễu Thăng như ngại ma quỷ đã dần dần lây lan.
Nguyễn Đông Thanh lại cao giọng:
“Đúng! Ta là một tên thư sinh trói gà không chặt! Ta là một tên chỉ biết võ mồm! Các ngươi nói không sai, về lý mà nói ta không có tư cách chửi các ngươi! Nhưng ta đọc nhiều hơn các ngươi vài quyển sách, biết cái gì gọi là thắng bại là chuyện thường của nhà binh. Ngày xưa quân Trần chặn đánh thiết kỵ Mông Cổ ở Bình Lệ Nguyên, thua có thảm không? Thảm! Vua Trần kém chút thì tử trận, bỏ cả kinh đô, rút về Tràng An cố thủ mới chống đỡ nổi thế giặc. Cuối cùng thì sao? Không phải vẫn đuổi được giặc Nguyên cút xéo về nước?”
Gã thấy không ai đáp, mới ngừng một chút lấy hơi, rồi tiếp:
“Vó ngựa Mông Nguyên tung hoành thiên hạ, tây đánh tới tận các nước xa ngoài mười vạn dặm, đông uy hiếp nước Phù Tang ngoài bể đông. So với Liễu Thăng thì thế nào? Quân ta còn chưa bết bát bằng quân Trần sau thảm bại Bình Lệ Nguyên khi đó, vậy mà các người đã mất hết ý chí, sợ Thăng như sợ hổ như thế? Khác nào con chó gãy sống lưng, chỉ biết sủa gâu gâu, vẫy đuôi chờ giặc vào nhà? Lúc này các ngươi còn có thể coi là chuyện không can hệ gì tới mình, là do quân giặc chưa đánh vào đến Lam Sơn mà thôi. Nhưng nếu Liễu Thăng dẫn binh vào cướp quê nhà, phá làng đốt xóm của các ngươi thì sao? Chẳng nhẽ cũng vì sợ hắn mà xun xoe cun cút, dâng trà rót nước cho chúng? Trả lời ta! Lấy dũng khí vừa chửi ta mà trả lời ta!”
Tên lính vừa đứng ra ấp úng, muốn nói gì đó, nhưng lại nhất thời không tìm được lời phản bác.
Những kẻ khác cũng thấy lời hắn nói có phần ngụy biện, nhưng lúc này vừa đánh một trận ác chiến, mệt mỏi rã rời, não đã bắt đầu đứng máy.
Nguyễn Đông Thanh tranh thủ thằng chột làm vua xứ mù, càng quát mắng tợn hơn:
“Hôm nay các ngươi có thể thấy ta nói rất quá đáng! Các ngươi có thể thẹn quá hóa giận! Các ngươi cũng có thể vì xấu hổ mà dùng loạn đao phân thây ta! Cũng được. Ta không trách các ngươi! Nhưng nếu các ngươi giết ta rồi, mà còn không lấy cơn giận này mà vung đao kiếm về phía quân Minh được, thì ta sẽ theo ám các ngươi cả đời!”
Cuối cùng, không thấy ai động đậy, gã bèn dậm chân:
“Mệt rồi! Nói mệt rồi! Yên Chi, chúng ta mau đi thôi!”
Đoạn, trước mặt ba quân, đỡ Trần Yên Chi đứng dậy bỏ đi. Sau lưng gã, tiếng chửi mắng vang lên inh ỏi. Đương nhiên, câu thường thấy nhất chính là “đóa hoa nhài cắm bãi cứt trâu” và “tiếc thay cây quế giữa rừng / để cho thằng mán thằng mường nó leo”.
***
Soái trướng...
Lê Lợi cởi giáo, nấu một nồi nước ấm, lại cho quân nấu một ít cơm với muối. Chẳng mấy chốc, các tướng Lê Lai, Bùi Bị, Bùi Quốc Hưng bước vào, chia ghế mà ngồi. Nguyễn Trãi đi sau cùng, lắc đầu cười:
“Không cần đợi. Bá hộ Nguyễn sợ ra khởi lều sẽ bị đánh chết, không đến đâu.”
Lê Lợi lắc đầu:
“Cái tên này đúng thật là... ai bắt hắn nhảy ra làm kẻ thù chung? Hắn coi người làm chúa công này chết rồi hay sao? Những chuyện như này còn không đến lượt hắn phải lo.”
Bùi Quốc Hưng gật đầu, xác nhận tính chân thực của chuyện này:
“Mới nãy tôi đi một vòng các quân, người nào người nấy đều hừng hực khí thế, muốn cho tên bá hộ Nguyễn kia biết mặt. Không khí bại trận bị cậu ta dùng cách quái đản không giống ai quét sạch không còn một chút nào.”
Bùi Bị hỏi:
“Không phải chỉ là chiêu khích tướng thôi sao?”
Nguyễn Xí nói:
“Mấu chốt là anh không được, tôi không được. Chỉ có vị bá hộ Nguyễn này là có kiểu nói chuyện khiến người ta muốn đấm vào mặt hắn mãnh liệt đến vậy.”
Lê Lai gãi đầu:
“Tôi cảm thấy... bá hộ Nguyễn nói rất cao thâm, cái gì mà Bình Lệ nguyên, Mông Nguyên, Bồng Lai. Tôi nghe không hiểu, cũng không biết có gì mà phải tức giận.”
Nguyễn Trãi nói:
“Thôi. Chuyện của bá hộ Nguyễn coi như đã xong. Chúa công, bá hộ nhờ Trãi chuyển lời hỏi ngài một câu. Tiếp theo đây ngài có kế hoạch gì không?”
Lê Lợi cười:
“Nói nguyên văn. Ta không tin tên này ăn nói giữ khẩu đức như thế.”
Nguyễn Trãi cúi đầu, nói:
“Chúa công anh minh. Nguyên thoại của bá hộ Nguyễn còn có một câu như này: ‘chúa công, ta chùi đít cho ngài được một lần này thôi. Thua thêm mấy trận nữa, Thanh thực sự sẽ bị sĩ tốt đánh chết tế cờ đấy’. Trãi thấy câu này có nhục tư văn, hơn nữa còn là câu nói gở, nên cố tình không thuật lại.”
Lê Lợi phun ngụm nước đang ngậm trong miệng về phía lò lửa, nói:
“Các ngươi nghe xem! Đây là tiếng người sao? Cái gì mà chùi đít thay cho ta? Cái tên Nguyễn Đông Thanh này đúng là muốn ăn đòn mà!”
Bùi Quốc Hưng gật đầu:
“Bá hộ Nguyễn này... có tài thì có tài thật... nhưng cái miệng thối khắm thối khú như là cái hố phân vậy.”
Lê Lai vỗ trán:
“Đúng! Lần sau chúng ta vác bá hộ Nguyễn lên chiến trường, để ngài ấy mở miệng mắng chết đối thủ.”
Nguyễn Xí:
“Lai, anh nghĩ người Minh hiểu tiếng Việt của chúng ta sao?”
“Người Minh không nói tiếng người, chẳng nhẽ nói tiếng chó sao? Như vậy thì đúng là không tiện giao lưu thật.”
Bùi Bị ho khan:
“Người Minh đương nhiên là nói tiếng Minh. Lê Lai, sau này đừng tùy tiện nói như vậy, ta sợ không nhịn được đánh chết cậu.”
“A! Tên này được đấy! Thèm ăn đòn có phải không? Có giỏi thì lên võ đài đánh nhau hai trăm hiệp!”
Lê Lai cởi áo trần, để lộ ra những miếng vải bố băng bó còn thấm đầy máu. Bùi Bị cũng chẳng chịu kém, lập tức đứng dậy sắn tay áo, khoe mấy vết đao còn mới cóng trên bắp tay.
Nguyễn Trãi nói:
“Chúa công, ngài mau mau can mấy vị mãnh tướng của ngài đi. Nếu như chưa lên chiến trường đã tự tàn sát lẫn nhau thì há chẳng phải trở thành trò cười của giặc hay sao?”
Lê Lợi cũng lắc đầu, nói:
“Hai người các ngươi có thôi đi không, đừng có làm trò cười trước mặt Bùi tướng quân.”
Bùi Quốc Hưng nói:
“Lam Sơn mãnh tướng như mây, chẳng bù cho mỗ đây trong tay nhân tài điêu linh, xấu hổ vô cùng.”
Nguyễn Trãi nói:
“Thôi. Mọi người đừng đùa nữa. Chúng ta nói chuyện chính đi. Chúa công, lần này chính diện giao chiến, ngài cảm thấy Liễu Thăng thế nào?”
Lê Lợi thở dài:
“Bá hộ Nguyễn nhận xét không sai. Tài thống soái ba quân ta không bằng hắn, thủy chiến cũng không thông thạo như hắn. Nếu không phải hôm nay ta ra lệnh sai, thì cũng không đến nỗi thua thê thảm đến vậy.”
Bùi Quốc Hưng cũng nói:
“Cũng là do mỗ chủ quan. Nếu như có thể sớm phát giác Liễu Thăng điều binh lên thượng nguồn đánh xuống thì cũng không đến nỗi bị động đến thế.”
Lần lượt các tướng đều nói cảm nhận của mình trong trận đánh vừa rồi. Bùi Bị, Lê Lai, Nguyễn Xí đều đánh được tướng của địch phải đổi thuyền bỏ chạy, vô cùng tiếc hận không thể giành chiến thắng. Lê Lợi càng nghe, mặt càng đen lại, hai bàn tay nắm chặt vào nhau.
Cuối cùng, Nguyễn Trãi nói:
“Qua trận đánh này có thể nhận ra: quân ta có nhiều đột tướng hơn địch, nhưng xét về tài thống quân chỉ sợ không ai hơn được Liễu Thăng. Đánh chính diện tạm thời không địch lại, cần phải dùng kỳ mưu thủ thắng.”
Bùi Quốc Hưng nói:
“Chỉ sợ trong thời gian ngắn không còn một trận động đất nào để lợi dụng như lần trước.”
“Chuyện ấy chờ chuyện của bá hộ Nguyễn lắng lại sẽ bàn sau. Bây giờ còn một vấn đề trước mắt phải giải quyết. Chúa công, nếu Đặng Tất lợi dụng chuyện này đoạt lấy quyền khống chế chiến trường thì ngài phải làm sao?”