Tiểu Thuyết Dài Kỳ: Thuận Thiên Kiếm - Chương 25: Thủy chiến

Ảnh đại diện
Nghịch Tử Nhà phân tích

Nguyễn Đông Thanh bèn hỏi:

“Lời này là có ý gì?”

“Cậu đánh giá quá thấp sức ảnh hưởng của hào cường địa phương, vậy thôi.”

Nguyễn Trãi lắc đầu, vỗ vai gã.

Trần Nguyên Hãn báo gia môn, hắn và Phạm Ngũ Thư bèn được hào cường địa phương che chở, đưa ngựa mời cơm, lo lót chuyện Lộ Dẫn. Qua các cửa ải, một đường nhẹ nhàng chạy thẳng đến bờ bắc dòng Gián Khẩu, vừa kịp lúc Lê Lợi và quân Lam Sơn muốn qua sông. Thế là, có thư giới thiệu của Nguyễn Trãi, Lê Lợi cũng đồng ý chở hai người cùng về Bãi Trứ.

Nguyễn Đông Thanh nghe gã giải thích xong, im lặng không nói gì.

Người bình thường cho dù là lúc thời bình, muốn rời khỏi nơi mình sống cũng khó khăn đủ bề.

Nhưng những người như Trần Nguyên Hãn, cho dù là lúc chiến tranh, vẫn có thể thích đi đâu thì đi, dọc đường có rượu có thịt.

Khác biệt cũng chỉ là hai chữ “xuất thân” mà thôi.

Cùng ngày...

Đặng Tất nghe ngóng được có cháu nội của quan tư đồ Trần Nguyên Đán vượt ngàn dặm xa đến, bèn phái con trai đích thân đến Bãi Trứ khao quân.

Đặng Dung ngồi ngựa cao, cùng binh lính dắt theo một con trâu, hai con dê, năm sáu con gà, cùng với một xe rượu ngon đến quân doanh của Lam Sơn. Lúc thấy Trần Nguyên Hãn, biểu tình trên mặt hắn hoàn toàn thay đổi, trở nên thân thiện dễ gần.

Thái độ khác xa lúc đối mặt với Lê Lợi, với Nguyễn Đông Thanh.

Hai người tán gẫu, tâng bốc lẫn nhau một lúc, Đặng Dung mới khen Trần Nguyên Hãn là “uy phong bát diện, trí dũng song toàn, theo võ có thể làm nguyên soái, theo văn có thể làm thừa tướng”. Cơ hồ là tâng bốc Trần Nguyên Hãn lên thành siêu nhân điện quang, kém chút một mình có thể đánh tan quân Minh ở bờ bắc.

Hai bên... mới chỉ gặp nhau một lần mà thôi.

Hôm sau, Đặng Tất lại hạ lệnh mỗi nhà cắt cử một trăm người, phân đến dưới trướng Trần Nguyên Hãn. Thế là, chỉ vừa đến Hoa Lư chưa nổi mười ngày, thế nhưng Trần Nguyên Hãn đã trở thành chủ tướng một quân, hoàn toàn thoát li khỏi quân Lam Sơn.

***

Đặng Dung vừa đi ít hôm, quân Minh đã lần nữa chiếm cứ bến đò bờ bắc.

Soái kỳ thêu chữ Mộc bay phấp phới, quân Minh cứ cách ngày lại ra trước bờ sông luyện binh.

Một nhánh quân hơn năm trăm lính mặc giáp tấm, một tay cầm lá chắn sắt, tay kia cầm giáo dài theo sự ra hiệu của cờ lệnh mà biến đổi trận hình. Tiếng nói đồng thanh vang như sấm, tiếng chân bước đều rầm rập rung chuyển mặt đất.

Bất luận là quân kỷ, hay tỷ lệ mặc giáp, cánh quân này đều vượt xa binh của Liễu Thăng. Càng đừng nói đến những cánh quân tập hợp nông dân địa phương như quân Hậu Trần, Lam Sơn.

Soái kỳ chữ Mộc, hẳn là Mộc Thạnh đã đến Cổ Lộng, tiếp quản chiến trường Gián Khẩu.

Mà cho quân thiết giáp ra bờ sông luyện binh, chẳng qua là cái trò khoe cơ bắp, khiến quân tướng Hậu Trần thấy binh tốt nước Minh tinh duệ ra sao, thiện chiến thế nào.

Loại tâm lý chiến này đến tận thời hiện đại, các cường quốc từ Âu sang Á vẫn tin dùng, đủ thấy được độ hiệu quả của nó.

Không ngoài dự đoán, những luồng dư luận sợ quân Minh, khiếp chiến bắt đầu bén rễ, lan truyền trong nội bộ quân Lam Sơn.

Bắt đầu từ cánh dân phu dựng tường, lan đến cánh quân xuất thân gia đinh do Nguyễn Đông Thanh đóng góp. Nếu tướng soái trong quân còn không có hành động, để dư luận lên men thêm một thời gian, thì chỉ sợ loại cảm xúc tiêu cực này sẽ bùng lên khắp ba quân như một đại dịch, không đánh tự thua.

Lê Lợi gọi các tướng vào lều, cùng bàn đối sách.

Bùi Bị, Lê Lai, Nguyễn Xí, Bùi Quốc Hưng đều tập trung một chỗ. Nếu sách sử Nho là đúng, thì đội hình này có thể nói là toàn sao của Lam Sơn. Gặp phải bất cứ một đối thủ nào khác, cho dù những danh tướng này còn chưa trưởng thành, Nguyễn Đông Thanh đều có lòng tin mười phần có thể đánh đối phương lăn lê bò toài.

Nhưng đối diện, là Mộc Thạnh và Liễu Thăng.

Minh là một triều đại khác biệt trong sử Tàu: nó phát tích ở phía nam Trường Giang, là triều đại duy nhất thành công lấy nam phạt bắc. Thành thử, ưu thế sông – nước của người Việt khi đối đầu với những triều đại phương bắc gần như bị san bằng.

Trong dòng lịch sử ban đầu, quân Hậu Trần cố nhiên là thắng trận Bô Cô, nhưng chiến quả thực sự ra sao thì nửa nọ nửa kia, chẳng thể nào nói chính xác được. Càng huống hồ, ở dòng thời gian hiện tại, do hiệu ứng cánh bướm, một viên tướng thông thạo thủy chiến là Liễu Thăng không trở về nước, mà ở lại tham gia trận Bô Cô. Mộc Thạnh có hắn phò tá, chưa hẳn không thể xoay chuyển cục diện chiến tranh, thoát khỏi kết quả ban đầu của lịch sử.

Thế nên, Nguyễn Đông Thanh phản đối:

“Mạo muội xuất binh chỉ sợ Đặng Tất sẽ có cớ kiếm chuyện.”

Nghe đến cha con họ Đặng, Lê Lợi lại nghiến răng kèn kẹt, gằn giọng:

“Hai con chó này, ta chưa đến hỏi tội bọn hắn cái chuyện lần trước thì thôi, bọn hắn còn dám đến gây sự? Cùng lắm là dẫn quân đánh vào Hoa Lư một trận.”

Nguyễn Đông Thanh nghe mà hoảng hồn, vội vàng khuyên can, trong lòng lại thầm chửi bậy.

Xem ra chúa công nhà hắn vẫn chưa bước ra được khỏi cái ngưỡng cửa dấy binh làm loạn, trả thù cho thuộc hạ. Hắn vẫn không nên chọc cái thùng thuốc nổ này thì hơn.

Đương nhiên, sợ thì có sợ, song Nguyễn Đông Thanh lại cảm thấy trong lòng vô cùng ấm áp. Thử hỏi, có ai khi biết sếp có thể vì ra mặt cho mình mà đánh liều cả tập đoàn khổ sở gây dựng lại không cảm động? Nếu có, thì có lẽ ấy chẳng phải người, vì trái tim của con người không làm bằng sắt, bằng đá.

Hành động của Lê Lợi trong dòng thời gian hiện giờ có thể không phải việc một chính trị gia tốt nên làm, cũng không còn sự trầm tĩnh vững chắc trong dòng thời gian gốc...

Nhưng lại khiến người khác vô cùng cảm động, có một loại mị lực rất riêng.

Có lẽ, có thể gọi đó là máu nóng của thiếu niên.

Nguyễn Đông Thanh không khuyên can nữa, Nguyễn Trãi lại không thạo cái chuyện chiến lược điều binh. Chiến thuật khiêu chiến quân Minh trên sông Gián Khẩu cứ thế được thông qua.

Được Nguyễn Đông Thanh nhắc nhở, Lê Lợi bèn phái du kị chạy đến Hoa Lư, báo một tiếng với hai cha con họ Đặng, coi như là xin chiến một cách chính thức.

Không chờ hồi âm, ngay sáng cùng ngày, Lê Lợi đã cho ba quân lên thuyền, dàn trận trước bờ nam khiêu chiến.

Quân Lam Sơn thiếu thuyền, phần lớn thuyền chiến do Đặng Tất cướp được đều đậu ở bến Tràng An, Lê Lợi không điều động được. Số thuyền lần này gã sử dụng là cướp được của quân Minh trong trận đánh vượt sông ngày trước. Còn lại là các thuyền Mông Đồng cỡ nhỏ, trên trang bị sào dài. Lê Lợi và Bùi Quốc Hưng đứng ở lâu thuyền đồng chỉ huy toàn cục, lại phân các đội tàu nhỏ ra cho các tướng Bùi Bị, Trần Yên Chi, Lê Lai, Nguyễn Xí thống lĩnh, chuẩn bị thủy chiến.

Quân Minh từ xa đến, cửa biển lại bị Hậu Trần khống chế, chiến thuyền phải điều từ Thăng Long xuống, nên số lượng cũng không quá nhiều.

Số thuyền chiến lớn – hai bên tương đương, nhưng thuyền của quân Minh thì ít hỏng hóc hơn.

Số lượng thuyền nhỏ, cơ động thì quân Lam Sơn có nhiều hơn, nhưng tỉ lệ thuyền được cải tạo lại từ thuyền cá của người dân cũng cao hơn.

Nói tóm lại, quân Lam Sơn thắng ở số lượng, thua ở chất lượng.

Bấy giờ là tháng mười âm, gió trên sông thổi ào ạt, những lá cờ thêu bay phần phật trong gió.

Bờ bắc Gián Khẩu, trên soái hạm, Liễu Thăng cầm cờ trắng, đang hầu một lão già trung niên đánh cờ.

Người này để râu dài đến ngực, da hơi ngăm ngăm ngả nâu, tay chân rắn rỏi đậm sắc người miền sơn cước. Bên cạnh lão có một tướng cầm đao đứng hầu. Trời tuy đã vào đông, gió sông lạnh căm căm thổi đều, thế nhưng ánh nắng trên trời rọi xuống và thanh đao nặng vẫn khiến gã hầu cận đổ mồ hôi đầm đìa. Thế nhưng, gã vẫn cắn răng chịu đựng, không kêu ca tiếng nào. Liễu Thăng đánh mắt nhìn mấy lần, gã cũng không phản ứng lại.

Trung niên cầm cờ đen tự nhiên chính là Mộc Thanh.

Lão chấp cờ, đặt xuống góc bàn, hỏi:

“Tử Tiêm thấy quân giặc dụng binh thế nào?”

“Thô thiển sơ lậu, không chịu nổi một đòn. So với binh pháp thiên triều thì kém xa.”

“Chua.”

“Quân hầu... nói gì ạ?”

“Chua. Chua hệt như lời đám toan Nho trong triều. Chua không ngửi được.”

Mộc Thạnh xua tay, lại nói:

“Tử Tiêm, cậu phải nhớ cho kỹ. Chuyện hạ thấp tứ phương, biến bọn chúng thành man di là việc của đám quan văn, cốt để người thiên hạ biết thiên triều thượng quốc mới là chính công. Chẳng qua là lời nói dối cho đám dân đen nghe, không cần tin là thật. Việc của đám quan võ chúng ta là phải làm sao khiến cho lời của đám quan văn trở nên hợp lý, đáng tin. Muốn làm được, muốn còn mạng, thì chớ có coi thường người thiên hạ, bằng không hậu quả vô cùng thê thảm.”

Liễu Thăng gật đầu, đánh một con cờ xuống chính giữa bàn cờ, nói:

“Tử Tiêm thụ giáo. Nhưng ta vẫn cho rằng quân địch tuy nhiều mãnh tướng, lại không có kẻ nào có thể làm thống soái điều khiển ba quân như cánh tay. Trận này, Thăng nguyện lập quân lệnh trạng với quân hầu. Nếu như đánh bại, thì Tử Tiêm đưa đầu về gặp ngài.”

“Ta cần đầu của cậu làm gì? Thôi... đi đi... Thắng thì tốt. Bại cũng không sao. Chiến thuyền đang được điều từ Đông Đô xuôi nam. Chúng ta không sợ tiêu hao với bọn chúng.”

Mộc Thạnh phất áo, kế đó ra hiệu cho kẻ đứng hầu xách đao xuống thuyền, để lại sân khấu cho Liễu Thăng.

Kẻ sau tuốt kiếm, khoác lên mình chiến bào, quát to:

“Ba quân nghe lệnh!”

“Hôm nay, ta muốn để khúc sông này uống no máu bọn giặc phương nam, lấy đầu tướng địch chấn thanh thế thiên triều!”

“Lấy đầu tướng địch, chấn thanh thế thiên triều!”

“Lấy đầu tướng địch, chấn thanh thế thiên triều!”

Gã vừa dứt lời, đám giám quân đã lớn tiếng hò reo hùa theo. Sau đó, sợ uy của đám đao bút tiểu lại, binh sĩ trong quân bắt đầu cao giọng hùa vào âm thanh của Liễu Thăng.

Tiếng hò trước trận vang cả khúc sông dài.

dã sử Thuận Thiên Kiếm (tiểu thuyết) Xuyên Không Lam Sơn
Còn lại: 5
0%