Thời xưa, ngoại trừ lính tuần doanh, binh lính không phải lúc nào cũng có vũ khí trong tay. Giáo mác, khiên đao, cung nỏ đều được quản lý thống nhất trong kho chuyên dụng. Chỉ đến lúc chuẩn bị khai chiến, giám quân mới bắt đầu phân phát vũ khí cho binh sĩ.
Làm vậy, một là để bảo quản, hai là để tránh binh sĩ tạo phản, làm loạn.
Nước sông dềnh lên, đánh ập vào trại. Đất đai chấn động, lều đổ rào nghiêng.
Đây là chuyện mà cánh giám quân, tham tướng không lường trước được.
Liên quân Lam Sơn biết trước sẽ có động đất, không lo xây lại tường, mà mượn nước sông đánh qua sông, lại càng không phải chuyện một con người có thể tiên liệu.
Quân của Lê Lợi, quân của Bùi Quốc Hưng dùng thuyền vượt sông, tông thẳng vào trại địch. Quân lính trên thuyền lấy cung cứng, nỏ mạnh, hướng xuống dưới mà bắn bừa. Quân Minh phần lớn còn chưa hoàn hồn, lúc này đã bị mưa tên ập xuống đầu, người chết như rươi.
“Hạ cầu tàu! Giết!”
Lê Lợi quát lên một tiếng, dẫn đầu lao xuống thuyền.
Trần Yên Chi nhảy xuống, khiến nước đọng bắn tung lên vấy đầy mặt. Cô nàng mở to hai mắt, dẫn hai trăm lính Lam Sơn lao về phía một căn lều vải. Trước cửa lều, còn có một cái áo yếm của đàn bà bị vứt chỏng chơ.
Vừa vén tấm liếp che, một mùi hôi thối đã đập vào mặt Trần Yên Chi. Trong lều, một gã đàn ông trần truồng vừa mới nhổm dậy, mặt còn hiện rõ vẻ ngái ngủ. Bên cạnh hắn còn có một người đàn bà đầu tóc rối bù, nằm mềm nhũn như con cá chết.
Trần Yên Chi không nói một lời, xốc kích xỉa một cái. Đầu kích nhọn hoắt đâm thủng cổ, tên lính Minh chỉ kịp ú ớ một tiếng rồi lăn ra chết.
Cô nàng vực người đàn bà dậy, thấy đôi mắt thị mờ đục vô hồn.
Trần Yên Chi đoán đây hẳn là một người dân bị bắt quỳ ở bờ sông hôm trước. Tuy không bị giết chết, ném xác xuống sông, nhưng cũng không thoát được số mệnh biến thành đồ chơi của đám sĩ quan, tướng tá.
“Có muốn báo thù không?”
Cô nàng không nói nhiều, chỉ hỏi một câu trực tiếp nhất, cũng là câu có lẽ người đàn bà trước mặt muốn nghe nhất.
Quả nhiên, đôi mắt không ánh sáng của cô ta tựa hồ lấy lại được sinh khí lúc nghe đến hai chữ “báo thù”. Cô ta cơ hồ dùng hết sức mạnh, gật đầu thật mạnh, kế lồm cồm bò dậy, cơ thể không còn mềm oặt ra như trước nữa.
Trần Yên Chi đáp:
“Đi. Ta dẫn cô đi giết người!”
...
Trong số dân làng bị bắt, cô gái này chắc hẳn là có chút nhan sắc.
Trần Yên Chi hỏi mãi mới biết tên cô nàng là Lan.
Thời kỳ chiến loạn, giặc cướp như ong, con gái xinh đẹp cũng chẳng phải việc gì tốt. Lan hẳn đã trở thành đồ chơi chuyển tay của đám sĩ quan, tướng tá quân Minh.
Có lẽ, bọn hắn cũng không ngờ có một ngày, “đồ chơi” cũng biết ngóc đầu phản kháng, cắn bọn hắn một cái.
Có Lan chỉ lối, Trần Yên Chi dẫn quân càn quét thủy trại. Phàm là kẻ bị Lan chỉ điểm, cô nàng đều chẳng chút do dự, hoặc là lấy kích đâm, hoặc là lấy cung bắn, một nhát là xong.
Sĩ quan, tướng tá còn lại trong thủy trại phần nhiều là không kịp phản ứng lại với trận địa chấn đến quá đột ngột. Bọn hắn phần lớn cho rằng quân Lam Sơn cũng bị bất ngờ, còn phải xây lại doanh trại. Cái chuyện dọn dẹp doanh trướng, thu thập quân nhu, ấy là cái việc của đám lính quèn. Bọn hắn chỉ cần tiếp tục làm chuyện của mình, qua loa mấy câu với Liễu Thăng là xong. Thời buổi tám chín phần mười dân số mù chữ, Liễu Thăng muốn quản lý toàn quân, khiến mệnh lệnh thông suốt các doanh các trại thì không thể giết đám sĩ quan tầng trung như bọn hắn được.
Thành thử, khi Trần Yên Chi dẫn quân đến tính sổ, bọn hắn nhiều kẻ hoặc còn nằm trên bụng đàn bà, hoặc chẳng kịp mặc quần áo. Số ít vơ được thanh kiếm, con dao, thì không tạo thành sức phản kháng nào đáng kể.
Trần Yên Chi phá lều, giết người, cứ nhằm đám sĩ quan mà ra tay. Chẳng mấy chốc, số người chết trong tay cô nàng đã có hơn hai mươi. Quân lính đi theo cô nàng cũng gặt hái mạng địch như cắt cỏ.
Cô nàng dẫn quân đánh từ cửa nam sang cửa đông, thì thấy trước mặt có mười mấy kị bao quanh một người, giục ngựa về hướng tây. Đôi mắt Trần Yên Chi tựa như mắt ưng, dù đứng cách xa gần sáu mươi bước cũng có thể phát hiện kẻ bị mấy chục kị bao bọc, đeo áo bào đỏ chẳng phải ai khác ngoài Liễu Thăng.
Cô nàng đưa kích cho người lính đi bên cạnh cầm hộ, lấy cung Tinh Bằng, lắp tên giương cung, bắn một phát.
Mũi tên xé gió, xẹt qua khoảng không như sao sa, cuối cùng đâm thủng đùi ngựa. Con ngựa hí dài, vấp ngã một cái, hất tung kẻ mặc áo bào xuống đất.
Trần Yên Chi lại lắp một mũi tên, muốn bắn tiếp phát nữa, nhưng mười mấy kị của đối phương đều có thuật cưỡi ngựa cao cường.
Bọn hắn không chần chờ, nhướn người một cái, tay tóm lấy Liễu Thăng xốc lên lưng ngựa, tiếp tục chạy về phía trước. Suốt cả quá trình không hề dừng lại, không chút vấp váp, trơn tru như nước chảy mây trôi.
Cô nàng thả tay, căm tức dậm chân một cái.
Đối phương là kị binh, Trần Yên Chi lại chỉ huy một toán bộ tốt. Nếu cô nàng rời khỏi phạm vi doanh trại truy đuổi vào chỗ đồng không mông quạnh, đối phương quay đầu ngựa giết ngược về, chỉ sợ kẻ gặp họa là bọn họ.
Trần Yên Chi lắc đầu, không dám đuổi càn nữa, mà dẫn người đi về hướng soái trướng.
Cô nàng vừa đến cửa lều, thì Lê Lợi đâ bước ra ngoài.
Trên mặt gã bám đầy tro, lẫn với mồ hôi cáu bết thành từng tảng đen sì. Mắt Lê Lợi long lên, tay cầm thương đâm mấy nhát vào vải lều.
“Tướng quân.”
“Chi à?”
Lê Lợi thấy Trần Yên Chi, bấy giờ mới thở ra một hơi dài, ép bản thân bình tĩnh lại.
Cô nàng lại gần, vừa nghiêng đầu ngó vào soái trướng, vừa hỏi:
“Có chuyện gì mà khiến ngài tức giận đến thế?”
“Đến chậm một bước, để tên Liễu Thăng chạy thoát. Thư tín, sổ sách cũng đều bị hắn lấy một mồi lửa đốt sạch mất rồi.”
Lê Lợi dậm chân, hậm hực.
Trần Yên Chi biết nguyên nhân khiến vị động chủ Lam Sơn này bực mình không chỉ đơn giản là để Liễu Thăng tháo chạy. Song, vì thân phận nhạy cảm, cô nàng cũng không hỏi nhiều.
***
Trận đánh này, quân Lam Sơn thắng giòn giã.
Lương thảo, binh khí, đồ quân nhu, cờ trống có một nửa bị ngâm nước hỏng, nửa còn lại có một phần bị giám quân của Liễu Thăng đốt, phần còn lại vào tay Bùi Quốc Hưng.
Bắt hàng được hơn hai ngàn binh lính, hai ngàn dân đinh.
Năm mươi con ngựa khỏe, mười chiếc thuyền lớn, thuyền nhỏ gần trăm cái.
Nhưng quan trọng nhất vẫn là chiếm được bến đò bờ bắc sông Đáy, nắm chặt quyền khống chế ngã ba Gián Khẩu trong tay.
Cùng ngày...
Lê Lợi hay tin Liễu Thăng trúng tên, ngã ngựa, bèn cho người tấn công mạnh vào hai tiền đồn phía nam và phía đông của thành Cổ Lộng.
Tiền đồn là tai mắt của Cổ Lộng, bề dài lẫn bề rộng đều có năm mươi mét, tường cao bốn mét, trong đó đồn trú hai trăm lính. Song, có lẽ vì thành được đắp vội, nên các tiền đồn chưa kịp cắt đặt hỏa pháo, cung thần tý để thủ thành.
Lợi dụng việc Liễu Thăng bị thương, quân Minh trong đồn thấy chủ lực bị thua, liên quân Lam Sơn mới nhổ được hai tiền đồn này.
Bùi Quốc Hưng chiếm đồn phía đông, Lê Lợi đoạt đi tiền đồn phía nam. Hai người lại tận dụng thủy trại cũ của quân Minh, lấy đó an trí hàng binh.
Tối, giám quân của Hậu Trần lúc này mới qua sông. Bùi Quốc Hưng bèn đi tiền đồn phía nam để mà luận công hành thưởng cùng chư tướng.
Nhìn giám quân kiểm tra kỹ số lượng quân nhu, binh khí thu được, Bùi Quốc Hưng lại chép miệng, ra chiều tiếc rẻ, nói:
“Tên Liễu Thăng này thính cứ như chó săn ấy nhỉ? Quân ta vừa sang sông hắn đã cùng thân vệ bỏ chạy, đã thế còn kịp phái người đi đốt lương, thiêu cháy hết thư từ sổ sách nữa chứ. Tiếc là không gặp hắn trên chiến trường, bằng không thể nào cũng phải đâm hắn mười nhát”
Lê Lợi nói:
“Bùi tướng quân tặng cung Tinh Bằng cho Yên Chi, hôm nay cô nàng lại lấy nó bắn ngã Liễu Thăng, vậy cũng coi như là tướng quân gián tiếp đánh hắn rồi.”
“Không tính thế được. Sau này nếu thằng ranh ấy lại ló mặt ra chiến trường, tướng quân không được tranh với mỗ đâu đấy.”
Bùi Quốc Hưng cười vang.
Lê Lợi cũng nói:
“Lần trước đã để anh một mình chèo thuyền ra sông, ngầu lòi hết phần người khác. Lần sau Liễu Thăng ra trận phải đến lượt tôi đánh nốt trận đấu dang dở với hắn chứ.”
“Ngầu lòi nghĩa là sao?”
“Chết. Lây cách nói chuyện của bá hộ Nguyễn. Tức là nổi danh.”
“Nhắc đến bá hộ Nguyễn, bản tướng quân không thể không phục hắn! Mẹ nó… làm sao hắn đoán chắc được trong tháng này sẽ có địa chấn? Nếu không phải hắn, chỉ sợ chúng ta sẽ bỏ lỡ chiến cơ.”
“Bá hộ Nguyễn nói: ‘sơn nhân tự có diệu kế’.”
“Cậu tin?”
“Tin cái củ sắn. Theo ta thấy hắn đang khoe mẽ.”
Giám quân của Đặng Tất thấy hai người nói chuyện vui vẻ, chẳng thèm để hắn vào mắt, thì hừ lạnh một cái. Kế, gã quay ngoắt lại, giở giọng đe dọa:
“Hai vị tướng quân lần này chưa có lệnh đã tự ý xuất quân, chiếm thành đoạt đất. Ta sợ hai vị chẳng có lần sau đâu.”
Lê Lợi cười dài, chẳng thèm để ý:
“Cảm ơn ngài đã quan tâm.”
Giám quân tức giận, phất áo mà đi. Không cần nói cũng đoán được, khi trở về bờ nam, hắn nhất định sẽ nói xấu Lê Lợi, Bùi Quốc Hưng trước mặt Đặng Tất.
Sáng sớm hôm sau...
Lê Lợi phái Trần Yên Chi tìm năm mươi người biết cưỡi ngựa, tạo thành một đội do thám. Kế đó dùng thời gian ngắn nhất đi đến các thôn, các làng ở quanh bến đò bờ bắc sông Đáy, nói với bọn họ Lam Sơn Lê Lợi sẵn sàng đưa bọn họ qua sông, trốn khỏi nanh vuốt của quân Minh.
Một mặt khác, lại nhờ Bùi Quốc Hưng giám sát hai ngàn hàng binh quân Minh, để bọn hắn kéo thuyền xuống nước.
Mấy con thuyền chiến hôm qua liên quân sử dụng để tập kích doanh trại bờ bắc đã mắc cạn sau khi nước rút đi. Lê Lợi muốn sử dụng bọn chúng để đưa dân qua sông, vậy thì chỉ có thể dùng sức người và dây thừng kéo thuyền. Mà hai ngàn tù binh hôm qua đầu hàng tự nhiên là nhân lực miễn phí, chẳng tội gì mà không dùng.
Sang đến ngày thứ ba, có hơn hai ngàn thôn dân kéo đến doanh trại của Lam Sơn, chờ đến lượt qua sông.
Thành Cổ Lộng vẫn đóng im ỉm, không có dấu hiệu gì là muốn phản công. Lê Lợi đoán hẳn là cú ngã ngựa mấy ngày trước khiến Liễu Thăng bị thương không nhẹ, đến giờ vẫn chưa thể thống soái ba quân được.
Thuyền lớn khua chèo bất kể ngày đêm, chở từng tốp dân sang bờ nam.
Mà lúc này, ở bến đò Bô Cô, Nguyễn Trãi và Nguyễn Đông Thanh cũng được Đặng Tất vời vào thành Hoa Lư.