Tiểu Thuyết Dài Kỳ: Thuận Thiên Kiếm - Chương 11: Liễu Thăng

Ảnh đại diện
Nghịch Tử Cộng tác viên

Hôm sau...

Nguyễn Đông Thanh chui ra khỏi lều, chạy đến chỗ Lê Lợi, muốn mượn một cái bản đồ địa hình về nghiên cứu.

Hắn cũng hết cách.

Muốn giúp Lê Lợi chải vuốt quá trình khởi nghĩa Lam Sơn, giảm bớt đường vòng, không thể không có bản đồ trực quan. Từ quá trình Hậu Trần kéo quân ra bắc có thể thấy, con đường hoành quân mà Cương Mục và Sử Ký ghi lại vừa mơ hồ, vừa lung tung, không thể lấy tham khảo được.

Nhưng thời này chưa có Google, bản đồ địa hình có thể nói là bí mật quân sự quan trọng. Nguyễn Đông Thanh xuất thân là một bá hộ bình thường, loại vật này hắn không thể nào lấy đến tay được.

Hắn dẫn Trần Yên Chi đi ra khỏi lều, đi về phía soái trướng của Lê Lợi.

Dọc đường, đi ngang qua một chỗ khuất, đột nhiên bên tai vang lên một tiếng quát:

“Thằng chó, tao giết mày!”

Từ góc lều, một bóng người vụt đứng dậy, cầm tảng đá muốn nện vỡ đầu gã. Nguyễn Đông Thanh bị bất ngờ, ngã ngửa ra sau, hai mắt mở to nhìn kẻ đánh lén. Hắn nhớ Trần Yên Chi từng nói, người ở thời đại này trong thân có một luồng sức mạnh.

Nguyễn Đông Thanh cũng không dám đánh cược một nông dân bình thường có thể dùng một tảng đá nện toác sọ hắn hay không.

Trần Yên Chi tiến lên một bước, lấy bả vai húc vào phần vai kẻ địch, ngay chỗ xương cánh tay nối vào xương mỏm vai, gần với nách. Kẻ đánh lén khẽ rên một tiếng, hòn đá trên tay rơi xuống đất đánh bịch một cái.

Cô nàng không dừng ở đó, chuyển thân nửa vòng, dùng khuỷu tay thúc vào mặt đối thủ. Lần này, kẻ đánh lén bị hất tung, hai chân không chạm đất, ngã văng ra có đến gần một mét. Trong miệng hắn trào ra máu tươi lẫn với nước bọt, lại nhổ ra mấy cái răng gãy.

Lính Lam Sơn đi tuần thấy động, lúc này cũng đã chạy tới, trấn áp người vừa đánh lén.

Hắn dùng ánh mắt đầy căm thù nhìn về phía Nguyễn Đông Thanh, gằn giọng mà quát:

“Chúng ta chỉ muốn sống an phận, chẳng nhẽ cũng sai hay sao? Vì sao đến phá làng, đốt xóm, bắt vợ con chúng ta đi?

“Đám quyền quý các người ăn ở thất đức, sau này chắc chắn sẽ bị quả báo!”

Trần Yên Chi lại gần, đưa tay kéo Nguyễn Đông Thanh dậy, hỏi nhỏ:

“Không sao chứ?”

“Không sao.”

Nguyễn Đông Thanh lắc đầu, vỗ vai cô nàng một cái, giống như muốn chứng minh mình không sao.

Gã nhìn người vừa đánh lén mình một cái.

Một thanh niên mười chín, hai mươi tuổi gì đó. Gương mặt hốc hác, tròng mắt đỏ ngầu, mái tóc bết dính đầy bùn đất.

Có lẽ, trước khi quân của Lê Lợi quét qua, gã có mẹ có cha, có nhà có cửa. Thậm chí nếu may mắn, cũng đã có người trộm nhớ thầm thương, chờ ngày cưới về nhà. Mà tất cả những điều nhỏ bé này, tựa như một cánh hoa thủy tinh, bị gót sắt của quân đội đạp vỡ tan tành.

Nguyễn Đông Thanh gật đầu, nói:

“Vậy thì ngươi phải cố sống. Sống để còn nhìn ngày ta bị quả báo tìm đến cửa.”

Nguyễn Đông Thanh không đành lòng nói chân tướng của thanh niên, không đành lòng phá hủy nốt tín niệm cuối cùng của gã.

Dù cho, chỉ là một loại thuốc phiện cho tâm hồn đi nữa.

Trước giờ, Nguyễn Đông Thanh vẫn không tin vào cái gọi là nhân quả báo ứng, ít nhất không tin vào một thứ quy luật siêu nhiên mang đầy tính trả thù trong văn hóa tâm linh. Bọn Rồng Xanh, Mãnh Hổ giết ít người Việt sao, gây ít tội ác sao? Nhưng cuối cùng nhiều tên vẫn về nước, vẫn còn được người Hàn coi là anh hùng.

Có lẽ, cái gọi là nhân quả báo ứng, chẳng qua là một biểu hiện của sự bị đè nén, của sự bất lực; một ước mơ phản kháng của quần chúng nhân dân trước cường quyền mà thôi.

Nguyễn Đông Thanh dặn lính canh không cần nói chuyện này cho Lê Lợi.

Trần Yên Chi tò mò nhìn sang, nhẹ giọng hỏi:

“Anh thật sự không giận? Người ta suýt nữa thì giết anh đấy.”

“Giận. Sao lại không giận? Nhưng... cô có thấy hắn thực ra rất đáng thương không? Ngay cả kẻ thù thật sự của mình là ai cũng không biết, chỉ có thể trút giận vào công cụ. Mấy trăm năm sau, ở Anh có chuyện phá máy dệt, âu cũng giống như chuyện hôm nay.”

Nguyễn Đông Thanh lắc đầu, tiếp tục đi về phía lều của Lê Lợi.

Gã xin được một tấm bản đồ mà không mất bao nhiêu công sức.

***

Hai ngày sau...

Nguyễn Đông Thanh chỉ vừa mới nhờ được Trần Yên Chi phiên dịch lại các địa danh trên bản đồ, còn chưa kịp suy tính gì sâu xa, thì tấm liếp che cửa lều đã bị một người xốc lên.

Lê Lợi rảo bước vào phòng, gương mặt rám nắng bây giờ càng đen đi mấy phần. Nguyễn Trãi theo sát đằng sau, trên gương mặt cũng lộ ra mấy phần mỏi mệt.

Nguyễn Đông Thanh ngồi nhỏm dậy, phát giác tình huống tựa hồ còn nghiêm trọng hơn hắn tưởng tượng.

Lê Lợi chống đao, ngồi xuống, tự rót cho mình một bát nước uống cạn, kế nói:

“Hôm nay lũy đất của chúng ta bị người ta kéo sập mất sáu đoạn, công sức mười ngày đổ sông đổ bể.”

“Trương Phụ, Mộc Thạnh phát giác được tầm quan trọng của ngã ba Gián Khẩu, xây thành Cổ Lộng ở bờ bắc. Bây giờ đối phương đến ngăn chúng ta đắp đất xây tường cũng không phải chuyện lạ.”

“Lời bá hộ Nguyễn nói có hơi đàm binh trên giấy. Chúng ta cũng lường trước động tĩnh chuyện xây dựng tường lũy sớm muộn cũng lọt vào tai quân Minh, nhưng đối phương phản ứng quá nhanh.”

“Ý anh Trãi là có nội gián?”

“Bá hộ Nguyễn đúng là chưa ra trận bao giờ. Nội gián thì hai bên ai cũng có thôi. Nhưng quả thật không biết đối phương dùng cách nào mà truyền tin được.”

Lê Lợi đặt bát nước xuống, quệt miệng:

“Hôm trước ta cử dọ thám sang sông, thấy trên đầu thành Cổ Lộng treo cờ ghi chữ Liễu, hẳn là có một tướng giặc mới từ phía bắc vào trấn thủ.”

Nguyễn Đông Thanh hơi giật mình một cái.

Lại một nhân vật có số có má trong quân Minh.

Hành trạng của người này có thể tính là một truyền kỳ, chỉ trong bốn năm từ 1406 – 1409, Liễu Thăng tham gia đánh Đại Ngu, chống cướp biển Nhật Bản, đến đánh bại quân Mông Cổ của A Lỗ Đài. Quan chức cũng từ một võ tướng tả quân đô đốc, thăng lên thành An Viễn bá, cuối cùng phong hầu.

Trong suốt chiều dài lịch sử, người thăng tiến với tốc độ chóng mặt như vậy không nhiều.

Càng đáng nói hơn, là người này tựa hồ là một thiên tài chiến tranh.

Hắn khởi đầu cầm đầu thủy quân, viễn chinh ở Đại Việt vốn mạnh về thủy chiến, bắt sống cha con họ Hồ ở Kỳ La. Chẳng khác nào lấy sở đoản của mình, đánh sở trường của đối phương, hơn nữa còn đánh thắng. Đương nhiên, thất bại của nhà Hồ có nhiều yếu tố đằng sau, nhưng không thể vì thế mà phủ nhận hoàn toàn tài cầm quân của họ Liễu.

Sau đó, đến lúc đánh với quân Mông Cổ, gã lại chuyển mình thành tướng lĩnh pháo binh, sử dụng thần cơ sang pháo của Hồ Nguyên Trừng đánh thắng quân Mông Cổ. Lần thứ ba, khi sang Đại Việt, hắn lại lấy thân phận kỵ tướng ra trận, công phá hai cửa ải.

Ba chiến dịch, ba thân phận, Liễu Thăng đều hoàn thành có thể nói là xuất sắc.

Nguyễn Đông Thanh vê cằm.

Theo dòng thời gian gốc, Liễu Thăng đã quay về nước, chuẩn bị sang năm đánh hải tặc Nhật Bản, đánh quân Mông Cổ. Từ đó mà đạt được vinh quang phong hầu, bái tướng của hắn.

Nhưng hiện tại, do sự đập cánh của hai con bướm nhỏ, nhân vật này lại không rút về nước Minh, mà ở lại tham dự trận Bô Cô.

Lê Lợi bèn hỏi:

“Bá hộ Nguyễn nhận ra tướng giặc là ai?”

“Thanh cũng chỉ dám đoán thôi, không dám nói chắc. Nhưng người đến trấn thủ Cổ Lộng rất có thể là Liễu Thăng. Kẻ này thống lĩnh thủy quân Minh, đánh bại quân Hồ, bắt sống hai cha con Quý Li, Hán Thương ở cửa biển Kỳ La. Bây giờ đã được phong là An Viễn bá, rất được Chu Đệ trọng dụng.”

Nguyễn Đông Thanh đáp.

Lê Lợi nói:

“Không biết võ nghệ ra sao, tướng tài thế nào?”

“Kẻ này đã theo Chu Đệ từ loạn Tĩnh Nan, thân kinh bách chiến. Về phần võ lực thì Thanh một kẻ trói gà không chặt, không dám nói bừa.”

Bấy giờ, Nguyễn Trãi lại nói:

“Cứ như lời bá hộ Nguyễn thì tên Liễu Thăng này rất thạo thủy chiến. Hẳn là hắn nhân lúc tối cho thuyền xuôi dòng, dùng móc kéo đổ tường đất của ta.”

Lê Lợi lại hỏi:

“Chúng ta không có đủ thuyền, cũng không đủ mũi tên. Chẳng nhẽ cứ trơ mắt nhìn hắn tung hoành trên sông?”

Nguyễn Trãi đáp:

“Vậy thì chưa chắc. Chúa công, mời nhìn địa đồ. Ở đây chính là lợi thế lớn nhất của ta. Muốn vượt qua Hoàng Giang, thì phải khống chế bến đò này.”

Nguyễn Đông Thanh tò mò nhìn địa đồ.

Phía tây ngã ba Gián Khẩu là một khu rừng rậm rạp, không có người ở, cách thành Cổ Lộng một bờ sông. Đi về phía đông thêm mấy trăm cây số, chỗ sông Nam Định đổ vào sông Đáy, hai bên bờ cũng là rừng rậm trải dài, mãi đến tận gần sát cửa biển.

Có thể nói, ngoại trừ bến đò Bô Cô phía bắc thành Hoa Lư ra thì cả con sông dài hàng trăm cây số không có nơi nào cho thuyền cập bờ quy mô lớn cả.

Cùng lắm cũng chỉ có thể như Liễu Thăng hôm qua cho thuyền xuôi nam, đánh phá bờ nam một chút, rồi lại quay đầu mà thôi.

Nguyễn Trãi nói:

“Mỗ nghĩ đến một cách có thể phá thủy quân của Liễu Thăng. Chỉ là cần một số người khỏe mạnh, chịu được khổ.”

Lê Lợi nói:

“Quân Lam Sơn ta người nào cũng cường tráng, hơn nữa vô cùng trung thành. Ta có thể cho anh Trãi một trăm người để dùng. Nhiều hơn nữa, sợ là không thể nào trấn áp được dân đinh.”

“Một trăm người là đủ rồi, mỗ xin cảm ơn chúa công đã tin tưởng.”

Nguyễn Đông Thanh ngồi một bên, thấy cặp chủ – thần này lại bắt đầu diễn vở “quân thần đồng đức”, bèn nói:

“Không phải! Nếu anh Trãi đã có cách phá địch, hai người còn kéo đến hỏi tôi làm cái gì?”

“Trãi nói bá hộ Nguyễn cậu có thiên nhãn, biết hết hào kiệt trên đời. Án theo binh pháp ‘biết địch biết ta, trăm trận không thua’, thân là một tướng cầm quân, ta đương nhiên phải đến tận nơi thỉnh giáo bá hộ rồi.”

Lê Lợi cười vang, phủi áo đứng dậy.

dã sử Thuận Thiên Kiếm (tiểu thuyết) Xuyên Không Lam Sơn
Còn lại: 5
0%