Tiểu Thuyết Dài Kỳ: Thuận Thiên Kiếm - Chương 9: Quyền

Ảnh đại diện
Nghịch Tử Cộng tác viên

Nguyễn Trãi im lặng hồi lâu, cuối cùng hỏi:

“Ý của bá hộ là, Đặng Tất chưa bao giờ có ý muốn khôi phục giang sơn. Hắn chỉ muốn lập Trần Ngỗi lên làm một ông vua bù nhìn, cưa đôi sơn hà, an phận ở phương nam mà thôi?”

“Đại ý có thể như vậy. Hoặc, cũng có thể là hắn định chờ lúc lông cánh đã cứng, con cháu của hắn tiến thêm một bước thay thế họ Trần. Lại kiên nhẫn đợi lúc phương bắc có biến, dấy binh bắc phạt lần nữa, mượn công lao này xóa đi vết nhơ tiếm quyền cướp nước, ngồi vững cái ngai rồng ở Thăng Long. Đặng Tất tiến thì làm Lê Hoàn, lui thì làm Chu Văn Vương, Ngụy Võ Đế, kế hoạch cụ thể tùy theo thời thế mà biến hóa.”

Nguyễn Đông Thanh phân tích xong, cúi đầu.

Luận ánh mắt, luận tài trí, hắn đương nhiên là không thể nào bằng người được nền giáo dục tinh anh bồi dưỡng như Nguyễn Trãi.

Thế nhưng, hắn lại có ưu thế lớn nhất: đó là đến từ đời sau, biết hướng đi đại khái của thời đại. Tuy nói Nho sử không thể tin hoàn toàn, nhưng ở phương diện nào đó, tỉ như xu hướng chung của lịch sử, thì cho dù lưỡi có nở hoa sen cũng chẳng tài nào che giấu được.

Cái chết của Trần Thúc Dao, Trần Nhật Chiêu, Phạm Thế Căng là một minh chứng.

Đầu năm “đói to”, cũng là một minh chứng khác.

Thứ mà sử gia Nho giáo nắm trong tay chưa bao giờ là lịch sử, mà là quyền giải thích những kết quả của nó. Ví như nhà Hồ thua, Hậu Trần thua, Ngô Sĩ Liên có viết gãy tay cũng không biến cho bọn hắn thắng được. Thế nhưng, Đại Ngu vì sao mà kéo dài bảy năm đã mất nước, Hậu Trần vì cớ gì chỉ truyền được hai đời vua, cũng đúng bảy năm...

Những chuyện này đều do nhà Nho lí giải.

Trải qua trăm năm, hai trăm năm, những chứng nhân lịch sử lần lượt ra đi, cũng chỉ còn có giọng nói của Nho sử là còn tồn tại ở đời. Đấy, cũng là nguyên nhân mà Nho gia thắng Phật, thắng Đạo, trở thành công cụ cộng sinh với hoàng quyền phong kiến ở bốn nước đồng văn Á Đông.

Nguyễn Đông Thanh không biết nguyên nhân cụ thể, hắn cũng không có phép thuật đọc suy nghĩ người khác.

Thế nhưng, đúng là sau chiến thắng Bô Cô, Đặng Tất không chịu tiến công ra bắc. Ngay cả thành Cổ Lộng đối diện sông cũng không đánh chiếm. Chiến báo có thể làm giả, nhưng chiến tuyến thì không.

Gã cúi đầu, là nhường chuyện tốn Ram não bộ này cho các vị vĩ nhân suy nghĩ.

Cuối cùng, Nguyễn Trãi thở ra một hơi, nói:

“Mỗ suy tính không chu toàn. Nghe bá hộ nói một buổi, ngang với đọc sách mười năm.”

Lê Lợi cũng gật đầu, lại cười vang:

“Thật muốn quay lại kỹ viện ngày đó, cảm ơn tấm ván sàn mục nát, để bá hộ rơi trúng bát của ta.”

***

Hôm sau...

Lê Lợi dẫn Nguyễn Đông Thanh, Nguyễn Trãi vào trướng chủ tướng.

Đặng Tất đeo kiếm đứng nhìn sa bàn, Nguyễn Cảnh Chân nằm trên ghế, nhếch miệng nhai chuối.

Kể từ cái lần “bố đời” ở đài điểm tướng, đây là lần đầu tiên Nguyễn Đông Thanh được tiếp xúc gần với hai người Đặng Tất, Cảnh Chân.

Đặng Tất hơi ngước mắt khỏi sa bàn, nhìn ba người đang quỳ, hỏi:

“Không biết Kim Ngô tướng quân đến tìm ta có gì muốn nói?”

Lê Lợi đáp:

“Mạt tướng đọc sách binh pháp thấy có ghi: binh mã chưa động, lương thảo đi trước. Nay quân ta vây thành Hoa Lư, chuẩn bị đánh lâu dài, thiết nghĩ không thể thiếu lương. Lợi chỉ có sức trâu, nguyện dẫn quân dùng thuyền về Hóa Châu, trợ quốc công vận lương thảo lên tiền tuyến.”

Đặng Tất nói:

“Sau này tướng quân nên đọc ít sách binh pháp lại, bằng không lại có những ý nghĩ không an phận thì không hay. Chuyện điều binh, khiển tướng, ta tự có kế hoạch, không nhọc tướng quân phải quan tâm.”

Nguyễn Cảnh Chân bấy giờ nhổm dậy, nói:

“Lính của Lam Sơn cường tráng, Lê tướng quân lại là hãn tướng dũng mãnh hiếm thấy trên đời, để đó không dùng cũng quả thật là châu ngọc bị long đong, gỗ lim để mọt. Chi bằng phái Kim Ngô tướng quân dẫn quân đi về phía đông, sau đó lên phía bắc chiếm Bạch Cừ, lại theo hướng tây thẳng đến Bãi Trứ. Kế men theo sông đắp tường, dựng lũy, chuẩn bị đánh chặn quân Minh từ phía bắc tràn xuống.”

Nguyễn Đông Thanh không ngờ Nguyễn Cảnh Chân cũng có thể sớm phát giác được tầm quan trọng của nút thắt Gián Khẩu. Gã cúi đầu, không dám nhìn về phía hai người Đặng Tất, Cảnh Chân, chỉ sợ để lộ manh mối. Đồng thời, đối với nhân vật được Ngô Sĩ Liên khen là “có tài mưu lược” này, hắn cũng có cái nhìn khác.

Xem ra, không phải cứ bị Nho sử tâng bốc thì đều là hạng mua danh chuộc tiếng. Cũng có những kẻ thực sự có tài, tỉ như Nguyễn Cảnh Chân.

Lê Lợi nhìn địa đồ, nói:

“Mạt tướng muốn hành quân theo chỉ huy của tham mưu đại nhân, vậy thì phải đánh qua năm thôn: Ninh Khánh, Bạch Cừ, La Mai, Xóm Đình, Tân Hối. Lấy binh lực của Lam Sơn chỉ sợ không đủ, hơn nữa cho dù có đánh được qua năm thôn này, thì cũng không đủ người xây tường đắp lũy.”

Nguyễn Cảnh Chân cười:

“Tướng quân nói đùa. Năm thôn này có bao nhiêu trai tráng, thì ngài có trong tay bấy nhiêu lính, bấy nhiêu đinh. Chuyện đơn giản này chẳng nhẽ còn để ta phải giải thích cặn kẽ hay sao? Còn nếu quả thật không đủ, thì chấp nhận dùng người già một chút cũng được. Không chặt cân vần đá được, hẳn là vẫn đủ sức để móc bùn đào đất chứ?”

Nguyễn Đông Thanh căng gân cổ, cố gắng không để hai hàm răng nghiến vào nhau ra tiếng. Cho dù hắn đã quay về thời đại này được hơn ba tháng, nhưng đến giờ vẫn chưa thể nào quen được với cách nói chuyện không coi dân chúng là người này của giới thượng lưu.

Tựa hồ, trong mắt những người như Nguyễn Cảnh Chân, phá một thôn làng, nhổ dân cướp người chẳng khác nào trẻ con phá tổ kiến.

Tựa hồ, trong mắt những kẻ thuộc giai cấp gọi là sĩ phu kia, cái gọi là trăm họ không phải là đồng loại. Những người nông dân biết nói biết cười, biết yêu biết hận kia trong mắt bọn hắn chẳng qua là công cụ sản xuất, nên an phận thủ thường phục dịch bọn hắn.

Đừng bao giờ gặp mặt anh hùng của mình.

Lúc này đây, Nguyễn Đông Thanh sâu sắc cảm nhận được ý nghĩa của câu nói này.

Hắn thất vọng.

Hoàn toàn thất vọng đối với cái gọi là sĩ tộc.

***

Đêm càng khuya, trăng càng thanh...

Nguyễn Đông Thanh vắt vẻo trên lưng lừa, ngơ ngơ ngác ngác.

Lê Lợi giục ngựa lại gần, vươn tay ra, rồi lại rụt lại mấy lần. Cuối cùng, hết thảy hóa thành một tiếng thở dài.

Nguyễn Trãi và Trần Yên Chi cưỡi ngựa sóng vai.

Gã nằm trên lưng ngựa, đầu gối lên yên cương, đột nhiên hỏi:

“Cô Trần, có một câu tôi không biết có nên hỏi hay không.”

“Cậu... cậu cứ nói...”

“Tôi luôn cảm giác hai người dường như không phải người của thời đại này.”

Câu chữ rơi xuống nhẹ như lông hồng, trong lòng người nghe lại tựa hồ đất bằng nổi sấm xuân. Trần Yên Chi thoáng dừng cương, trong lòng hơi chột dạ, hỏi:

“Vì sao cậu lại nói thế?”

“Thái độ. Hoặc là nói là cách hai người đối xử với sự vật, hiện tượng trước mắt đều có chút khác biệt. Bá hộ Nguyễn quá để ý đến sống chết của dân chúng tầng dưới chót, không giống nhân sinh quan một phú hộ nên có. Lại nửa tỉnh nửa mê, nửa tinh minh nửa trì độn, một mình một nẻo đường. Cô thì có một cá tính độc lập, cởi mở, không e ấp như tiểu thư khuê các, chẳng phóng đãng như phường gái bán hoa. Tựu chung... thế đạo của hiện tại không thể tạo nên hai người các vị.”

Nguyễn Trãi ngồi nhỏm dậy, cười:

“Đây cũng là lí do mỗ dùng đủ mọi thủ đoạn ép Nguyễn bá hộ cùng lên con thuyền này. Để một biến số như gã chạy khắp nơi trong thời loạn, mỗ không yên tâm.”

“Thế theo cậu, chúng tôi đến từ đâu?”

Trần Yên Chi không đáp, mà quăng vấn đề ngược lại cho Nguyễn Trãi. Cô nàng cũng tò mò muốn biết vị danh nhân này sẽ đoán ra được bao nhiêu phần sự thật.

Nguyễn Trãi lim dim mắt:

“Không biết. Có thể là người từ thời Nghiêu Thuấn, hoặc là đến từ tương lai. Cho dù thế nào đi nữa, hai người cũng không có ý định nói ra đúng không? Thế thì mỗ đoán làm gì cho mệt?”

Trần Yên Chi cười khổ.

Cô nàng thật sự không ngờ Nguyễn Trãi lại tinh ý đến thế. Chỉ cần quan sát cách hai người họ tương tác với thế giới, cũng đã đoán ra chân tướng linh hồn bọn họ đến từ đời sau.

Mà phía trước...

Nguyễn Đông Thanh ngẩng đầu nhìn bầu trời, hỏi:

“Anh Lợi. Anh dự định diệt làng thật sao?”

Lê Lợi thở dài:

“Ta không thể để mấy trăm tráng sĩ tin tưởng đi theo mình chôn xác ở xứ người.”

“Vậy, trong mắt anh, dân chúng có đáng giá chút nào không?”

“Đáng giá.”

“Anh biết dân chúng ta nói đến không phải hào cường, không phải địa chủ, cũng không phải sĩ tộc. Bọn hắn là những người quanh năm bán mặt cho đất, bán lưng cho trời. Bọn hắn là những người một chữ cắn đôi không biết. Bọn hắn trong nhà khó khăn, có lẽ ngay cả tiền chôn cha, cưới vợ cũng không có. Bọn hắn không thể cho anh quá nhiều trợ lực trên đường làm việc lớn.”

“Đáng giá.”

“Vì sao nói thế?”

“Thuở bé, ta từng đi học ở Thăng Long, từng gặp qua hai nhân vật. Một, là Trần Khát Chân. Người còn lại, tên là Lê Quý Li. Người đầu tiên, dạy ta bài học về sĩ tộc. Người thứ hai, dạy cho ta bài học về thứ dân.”

Ngừng một chốc, gã tiếp:

“Một người mắt đi mày lại cùng tướng giặc để đổi quân công, tiến thân trên quan trường. Bây giờ đang được tung hô là anh hùng trung nghĩa. Một người khác, ra lệnh hạn chế ruộng tư và nô tỳ, hiện tại đã sớm bị chửi không bằng heo chó. Ta cảm thấy thế đạo bất công, đen tối như vậy, nếu để nó tiếp tục tồn tại thì chẳng xứng sinh ra làm nam nhi.”

“Không biết bá hộ Nguyễn có hài lòng với đáp án của ta hay không?”

Nguyễn Đông Thanh gật đầu:

“Hài lòng.”

Đoạn dừng lừa lại, mở miệng muốn nói, nhưng âm thanh lại tựa hồ kẹt ở cuống họng. Mãi sau, gã mới đổi giọng, cúi đầu:

“Sau này xin nghe chúa công hiệu lệnh.”

dã sử Thuận Thiên Kiếm (tiểu thuyết) Xuyên Không Lam Sơn
Còn lại: 5
0%