Nguyễn Đông Thanh bấy giờ mới biết vì sao người ta thích có đôi có cặp như vậy. Con gái vừa ấm vừa thơm, ôm vào lòng rất thoải mái.
Nói đến, đời trước của hắn cũng không phải chưa từng nói lời yêu. Nhưng trùng hợp thế nào, hôm trước vừa tỏ tình, hôm sau cha hắn đã ngã bệnh. Mà cô gái kia hay tin cũng lập tức cho hắn ra chuồng gà.
Nguyễn Đông Thanh hiểu có một người cha bị bệnh nan y là trách nhiệm lớn đến mức nào. Con gái người ta không muốn đèo bòng âu cũng là lẽ thường tình.
Ít nhất, gã cảm thấy, cô gái kia chia tay thẳng thắn, so với cái loại đàn bà lừa tình lừa tiền, ỡm ờ nước đôi hắn vẫn thấy trên mạng thì đáng kính đáng nể hơn nhiều.
Vì chuyện của cha, đến tận lúc lìa đời, gã cũng không nói chuyện yêu đương thêm lần nào nữa.
Ôm Trần Yên Chi ngủ, đối với một tên chó độc thân hai kiếp người như gã quả thật là thử thách lớn.
Lúc này, gã mới tấm tắc cảm thấy, con người quả thật là động vật cao cấp hơn các loài khác.
Nguyễn Đông Thanh chả phải thái giám, bản năng cũng biết rục rịch, cũng biết nứng. Cơ thể này của hắn đang tuổi tráng niên, nói trắng ra là đến giai đoạn sinh sản. Nhưng cuối cùng, bằng tất cả lí trí và danh dự, gã vẫn nhịn được.
Dù sao, hôm qua cô nàng đến an ủi gã. Nếu lúc đó hắn thừa cơ lợi dụng, đè Yên Chi xuống, thì chỉ sợ chính Nguyễn Đông Thanh cũng chẳng dám nhìn mặt cha, không tha thứ được chính mình.
Gã tôn trọng Trần Yên Chi, cũng quý danh dự của mình.
Ít nhất, Nguyễn Đông Thanh hắn không phải sinh vật chỉ biết nghĩ bằng cái đầu bên dưới.
Trở dậy, gã vội vàng thay một cái quần mới, rồi vội vàng chạy đến lều chủ tướng. Mấy người Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Bùi Quốc Hưng đã ngồi chờ sẵn. Hai vị võ tướng biểu hiện như bình thường, duy chỉ có Nguyễn Trãi là thỉnh thoảng lại liếc Đông Thanh một cái. Hai lông mày bạc trắng nhướn nhướn, giống như muốn ẩn ý nói gì đó.
Nguyễn Đông Thanh hơi rùng mình, phía sau lạnh căm căm, chỉ sợ sẽ xuất hiện cảnh kinh điển “nhặt xà phòng”. Nhưng rồi gã lại nghĩ, Nguyễn Trãi đến sáu bảy mươi tuổi còn cưới thêm một bà vợ lẽ. Nếu ngay cả y cũng cong thì sợ rằng trên đời chẳng còn trai thẳng.
Nguyễn Trãi không nói rõ ý mình, mà chuyển sang chuyện chính:
“Hôm nay Liễu Thăng lại bắt dân dàn hàng ngang bên sông.”
“Mẹ nó. Thằng khốn này được một nấc lại muốn lấn một tấc. Để tôi đi điểm quân, sang đánh bỏ mẹ nó.”
Bùi Quốc Hưng vỗ bàn, toan đứng dậy xách thương.
Nguyễn Đông Thanh nói:
“Chậm đã. Tôi cho rằng hắn sẽ không tiếp tục giết người nữa.”
“Cậu mê sảng rồi phải không? Chẳng nhẽ hôm qua cậu không thấy hắn cho quân chém người, vứt xác nổi đầy sông à?”
Bùi Quốc Hưng nhíu mày.
Lúc này, Nguyễn Đông Thanh mới để ý hai hàng chân mày gã đặc biệt dày, đặc biệt rậm, lúc nhăn lại như hai con sâu róm.
Lê Lợi khoát tay, lại hỏi:
“Anh Trãi thấy sao?”
“Chuyện này tôi đồng tình với bá hộ Nguyễn.”
“Anh Lợi, hai người anh em này chắc chắn là đọc sách đến váng đầu rồi. Chiến tranh nào có phải trò trẻ con, trên chiến trường có ai lại nói đến đạo đức? Cũng chỉ có đám văn nhân mới tin Liễu Thăng sẽ đột nhiên thức tỉnh lương tri, không giết người nữa mà thôi.”
Bùi Quốc Hưng không phục, bĩu môi.
Nguyễn Trãi cười:
“Mời bá hộ Nguyễn nói trước.”
Nguyễn Đông Thanh gật đầu, nói:
“Tôi nói như vậy không phải trông chờ vào lương tâm của tướng địch, mà là đứng từ góc độ lợi ích. Bùi tướng quân thân là người làm tướng, cầm binh. Nếu là ngài chiếm được bến đò bờ bắc thì sẽ làm gì?”
“Đương nhiên là quyết trận thư hùng trên sông, chờ thời cơ xuôi nam, đánh chúng ta một trận tơi bời, đuổi Đặng Tất về Hóa Châu.”
“Vậy lương thảo, quân giới ngài định cho ai vận từ hậu phương xuống?”
“A?”
“Tướng quân, mời nhìn địa đồ. Phía nam sông Đáy chỉ có vài thôn làng, đều tập trung quanh khu Tràng An, Hoa Lư mà sống. Bờ bắc hoang vu, lắm rừng, nếu không phải còn có một con đường huyết mạch nối cố đô Hoa Lư với kinh thành Thăng Long thì chỗ này sớm đã là nơi chim không thèm ị. Dẫu vậy, bờ bắc cũng chỉ có hai ba thôn xóm, mấy trăm nóc nhà, dựa vào việc mở quán dịch mưu sinh.”
Ngừng một chốc, gã lại tiếp:
“Nếu chúng ta đánh thắng Liễu Thăng, hắn giết dân để làm khó dễ đường bắc tiến của ta, nhiễu loạn đường tiếp tế của ta thì còn có thể hiểu. Nhưng nếu ý định của hắn là đánh về phía nam, tiêu diệt đế Ngỗi, thì cách làm này chẳng khác tự lấy đá đập chân mình. Thiết nghĩ, trên đời này không có một ai còn chưa lên núi bắt hổ đã dùng kế ‘tráng sĩ chặt tay’ để tìm đường thoát như vậy.”
Nguyễn Đông Thanh nói đến đây, nhẹ nhàng vỗ hai bàn tay vào nhau, nói:
“Thế nên, tôi mới dám nói, Liễu Thăng sẽ không giết quá nhiều người.”
Bùi Quốc Hưng vẫn không phục, nhỏ giọng phản bác:
“Hắn có thể nhổ dân ở các thôn bờ nam dùng làm dân phu cũng được.”
“Đúng. Nhưng đấy là trong trường hợp tốt nhất của địch, xấu nhất của ta: chúng ta thua chạy về phía nam. Bùi tướng quân, nếu như Hậu Trần cướp được Hoa Lư, nhổ dân vào thành, cố thủ trong đó thì sao? Lúc này bờ bắc không có dân, hắn muốn vây thành thì tốn bao nhiêu công sức? Cứ cho là hắn điều dân từ tận ngoài Bắc Hà vào làm phu, làm dịch đi. Vậy chẳng nhẽ hắn không sợ gây nên dịch bệnh sao?”
Nguyễn Đông Thanh nói.
Nguyễn Trãi vỗ tay:
“Xem ra, Vô Học Thái Học Sinh của chúng ta chỉ vô học với tùy người mà thôi.”
Bá hộ Nguyễn của chúng ta gãi đầu, cười cười.
***
Về sau, quả nhiên giống như bọn họ đoán.
Liễu Thăng cũng không tiếp tục giết người nữa.
Mà Nguyễn Đông Thanh, cũng vô cùng cảm khái.
Nếu nói lúc đọc sách sử cho cha nghe, hình ảnh nào gây ấn tượng mạnh nhất với gã, thì hẳn là đoạn miêu tả quân Minh đánh Hàm Tử, Trương Phụ giết dân.
Cương Mục chép:
“Trương Phụ thắng trận, đi đến đâu chém giết thả cửa, hoặc xếp thây người làm quả núi, hoặc bồn ruột người quấn vào cây, hoặc rán thịt người lấy mơ, hoặc làm nhục hình bào lạc để mua vui, thậm chí có người theo lệnh giặc, mổ bụng người chửa, cắt lấy hai tai của mẹ và con để dâng cho giặc.”
Sử Ký thì ghi:
“Phụ đi đến đâu, giết chóc rất nhiều, có nơi thây chất thành núi, có chỗ moi ruột quấn vào cây, hoặc rán thịt lấy mỡ, hoặc nướng đốt làm trò, thậm chí có đưá mổ bụng lấy thai, cắt lấy hai cái tai để nộp theo lệnh. Kinh lộ các nơi lần lượt đầu hàng. Những dân còn sót lại bắt hết làm nô tỳ và bị đem bán, tan tác khắp bốn phương cả.”
Ấn tượng ban đầu như vậy, thế nên Nguyễn Đông Thanh cũng tin tưởng Liễu Thăng sẽ giết người không gớm tay, tàn sát hết dân ở bờ bắc.
Song, tối hôm trước, trong lúc ngủ, gã chợt nhớ đến bài cáo Bình Ngô học trong chương trình phổ thông. Khi ấy, Nguyễn Trãi tả về tội ác của quân Minh, có viết một đoạn dài. Từng câu, từng chữ, đều miêu tả quân Minh dối trời lừa dân ra sao, sưu cao thuế nặng thế nào. Nhưng tất cả đều vây quanh chuyện bắt lao dịch, vét tài nguyên, không hề nói gì đến giết người.
Nhưng nghĩ lại, kể cũng phải...
Người Minh dẫn quân sang, đánh nhau với nhà Hồ, chết nhiều người như vậy để làm gì? Không ngoài di dời mâu thuẫn nội bộ ra ngoài, ổn định cục diện chính trị. Về sau, chiếm được Đại Việt, chiếu theo tư duy của người bình thường mà nói thì hành động tiếp theo hẳn là vơ vét thuộc địa, lấy lại số tiền đã đầu tư, thậm chí là kiếm lời.
Tựu chung, người thật có máu có thịt, không phải nhân vật phản diện trong tiểu thuyết.
Người thật có động cơ lợi ích, có phe phái, có giai cấp.
Phản diện trong tiểu thuyết, trong phim ảnh, trong sử Nho có thể là cái ác thuần túy, ác không vì một lí do nào cả. Bởi lẽ, bọn hắn được tạo ra chỉ với một mục đích: tô điểm, đánh bóng cho sự chính nghĩa của phe đối địch, của nhân vật chính.
Nhưng người thật thì không.
Người biết nói dối, biết ngụy trang, biết tự đeo cho mình một cái mũ “chính nghĩa”, biết bò lên điểm cao đạo đức.
Trương Phụ làm những chuyện giết người, bào cách, rán mỡ kia để làm cái quái gì? Tăng tính chính nghĩa cho đối phương sao?
Thành thử, Nguyễn Đông Thanh lại phát hiện thêm một điều.
Người Minh sang xâm chiếm Đại Việt, đứng trên góc độ là người Việt Nam thì bọn hắn đương nhiên chẳng phải thứ tốt lành gì. Thế nhưng, tựa hồ hình ảnh của bọn hắn trong Nho sử cũng được ngòi bút Nho giáo kiệt lực bóp méo, kiệt lực bôi đen.
Cái chuyện phi nhân loại hóa kẻ địch, kích động lòng thù hận toàn dân để nâng cao sức chiến đấu dân tộc nào cũng làm. Thế nhưng, liệu đó có phải là nguyên nhân duy nhất không? Hay còn lí do nào khác?
Nếu buộc phải nói...
Thì Nguyễn Đông Thanh có cảm giác như quân Minh là một màn khói che mắt, một đống mực đen bị con mực phun ra.
Bằng chứng? Hắn không có.
Nhưng sau khi nghe Nguyễn Trãi kể về chân tướng thành Đa Bang, về Trần Triệu Cơ, lại sinh hoạt ở thời đại này già nửa năm, đây là ý nghĩ đầu tiên của Nguyễn Đông Thanh lúc nhớ lại những chuyện này.
Sau đó, Lê Lợi và Liễu Thăng tiếp tục giằng co nhau, một chiếm bờ nam, một giữ bờ bắc.
Thời gian chậm rãi trôi.
Cho đến một ngày...
Mặt đất rung chuyển dữ dội, cây cối nghiêng ngả, nước sông Đáy vỡ đê, dềnh cao, tràn về phía bờ bắc. Nháy mắt, thủy trại của Liễu Thăng nước ngập lênh láng, lều vải trôi tứ tán, hàng rào gỗ vỡ tung. Người, ngựa đều kinh hồn táng đảm.
Mà quân lính Lam Sơn, binh mã của Bùi Quốc Hưng, cũng nhân cơ hội này xông về phía bờ bắc.