Cuối cùng, Bùi Quốc Hưng quăng cái đầu người từ giữa sông về phía bờ. Cái đầu tên phiên dịch đáp đất, vỡ tan tành ra làm mấy mảnh.
Làm xong chuyện, thuyền cũng bắt đầu vượt sông, quay về phía bờ nam.
Đương nhiên, quân Minh sẽ không vì chuyện hôm nay mà tha mạng cho người dân. Trái lại, bọn hắn vung lên đao trong tay, hướng về phía dân chúng không sức phản kháng mà bổ xuống. Hôm đó xác chết đầy sông, máu nhuộm đỏ sóng.
Nguyễn Đông Thanh đứng bên bờ, trông thấy hết, bèn cảm thán:
“Dân bị đối xử như heo chó, gà vịt, để quan binh mặc sức chém giết như vậy, sao không phản kháng?”
Tư duy của hắn đến từ đời sau, thật sự không lí giải được sự cam chịu nhẫn nhục của dân chúng tầng dưới thấp thời phong kiến. Từ đáy lòng, gã cảm thấy chiến tranh nhân dân chẳng sợ đế quốc, không sợ cường quyền, là một dòng lũ có thể quét phăng mọi xiềng xích gông cùm trên đời.
Nhưng quay về thời Hồ mạt, tận mắt thấy dân chúng bị dẹp làng, đốt xóm, tàn sát như gặt lúa mà không vùng lên phản kháng, thấy sĩ tốt răm răm tuân lệnh chỉ huy, vung đao giết người mà chưa từng tự vấn lương tâm, khiến hắn thấy vô cùng lạc lõng.
Tựu chung, Nguyễn Đông Thanh vẫn luôn có một loại cảm giác không thật, tựa hồ hắn là một dị loại từ đầu đến chân, không hợp với thế gian này.
Kẻ không phù hợp, tất bị đào thải.
Nhưng nếu vì khiến bản thân phù hợp với môi trường, mà bị cái thời đại người ăn thịt người này đồng hóa, thì Nguyễn Đông Thanh lại kháng cự.
Trong lòng rối như tơ vò, mâu thuẫn tầng tầng lớp lớp.
Nguyễn Trãi đứng bên cạnh, nhìn nước sông cuốn tung xác người và máu tanh, chỉ hỏi một câu:
“Bá hộ Nguyễn đã từng đọc bài đáp quốc vương Quốc Tộ chi vấn của Pháp Thuận thiền sư hay chưa?”
Nguyễn Đông Thanh còn nhớ bài thơ này.
Gã từng học trong chương trình phổ thông, cũng chỉ có hai mươi chữ, không khó thuộc. Cho dù đã rời khỏi băng ghế nhà trường nhiều năm, hắn vẫn có thể ngâm nga đại khái được:
“Có phải bài này:
‘Quốc tộ như đằng lạc
Nam Thiên lý thái bình
Vô vi cư điện các
Xứ xứ tức đao binh’?”
Nguyễn Trãi nói:
“Đúng. Chính là nó. Mỗ hồi nhỏ từng đọc, ấn tượng rất sâu. Về sau lớn lên, giao lưu cùng sĩ phu sáu tỉnh, học giả bắc hà, rốt cuộc mới hiểu.”
Nguyễn Đông Thanh hỏi:
“Anh Trãi cho rằng bài này nói đúng?”
“Đúng con khỉ! Hai mươi chữ, gói gọn cứu thế luận của những kẻ ngồi trên đỉnh tháp, quan sát chúng sinh. Không thể không nói, vị Pháp Thuận thiền sư này đúng là tài tình. Khó trách Phật giáo có thể trở thành quốc giáo hai triều.”
“Lời nói quá thâm ảo, tên thất học nghe không hiểu, xin được giải thích.”
Nguyễn Trãi bèn nói:
“Quốc tộ như đằng lạc, nam thiên lý thái bình. Vì sao vận nước lại như dây mây cuốn? Mây cuốn rối rắm khó gỡ. Có phải thiền sư kia đang ‘nhắc khéo’ vua rằng: hào trưởng, địa chủ, danh gia vọng tộc, phú hộ địa phương ăn sâu bén rễ, thông gia lẫn nhau, rối rắm như mây cuốn. Gặp mây cuốn vào nhau rối rắm, hoặc là mặc kệ, hoặc là chém đứt, không có lựa chọn thứ ba.”
Ngừng một chốc, gã lại chỉ vào dòng sông đang cuộn trào sủi bọt mà quát:
“‘Vô vi cư điện các’. Hay cho một câu ‘vô vi’ ngồi trên điện. Thế nào là ‘vô vi’? Thế nào là ‘thuận theo tự nhiên’? Quyền giải thích ở trong tay ai? Theo mỗ thấy, thiền sư đang nói vua nên ‘nhượng quyền’ cho người tài, yên tâm làm bù nhìn là được. Mà người tài là ai, đương nhiên quyền giải thích nằm trong tay cánh thiền sư, cánh sĩ phu! Câu cuối cùng, ghép lại hoàn chỉnh ý cả bài, nhìn như đang vẽ nên cảnh thái bình thịnh trị, thực ra là một lời uy hiếp trắng trợn. Vua nếu biết nhường quyền trong tay cho quan lại, cho những kẻ ngồi trên ăn thịt như bọn hắn, thì thiên hạ này được yên. Bằng không thì các nơi không lúc nào dứt loạn binh đao, chiến tranh không ngừng.”
Nguyễn Trãi ngồi xuống bên bờ, nhặt một hòn đá lên, ném ra sông. Một hòn sỏi nhỏ, rơi xuống dòng sông Đáy, tạo nên một chút gợn sóng. Nhưng so với cả con sông dài hàng ngàn cây số, rộng hàng trăm mét, chút dao động này chẳng đáng kể chút nào.
Gã lại tiếp:
“Về sau, mỗ đi lại trong giới sĩ phu, cũng thường nghe được cách nói này. Bọn hắn cho rằng mấu chốt của loạn lạc tựu chung là vua ngu dốt ám muội, không biết dùng người tài đức, cũng tức là bọn hắn. Chỉ cần giao quyền cho bọn hắn, nhường lợi cho bọn hắn, thì tức là vua tốt. Về phần nông dân? Thương nhân? Thợ thuyền? Bọn hắn chỉ cần an phận thủ thường, ngoan ngoãn làm công cụ sản xuất tài sản là được rồi. Chỉ có nhà Nho, chỉ có bọn hắn, mới xứng đáng cứu khốn phò nguy, tiếp tục hưởng quyền hưởng lợi.”
Từng câu, từng chữ của Nguyễn Trãi vang vọng như sấm, như từng nhát dao xé nát cái áo sặc sỡ tuyệt đẹp bên ngoài, để lộ ra phía sau thứ khung cảnh xấu xí, nhớp nháp và kinh tởm.
Nguyễn Trãi không cần nói tiếp.
Đông Thanh cũng đã có câu trả lời của mình.
Đây là thời mà tin tức mất hàng tháng trời, thậm chí nhiều năm trời mới có thể truyền đi xa.
Đây là thời mà chín mươi phần trăm dân số cả nước thuộc diện mù chữ.
Đây là thời mà thầy đồ mở miệng trung quân ái quốc, quân thân sư, là giai cấp tôn ti thâm căn cố đế. Là thời mà thầy bói thầy pháp ngậm miệng đều là những kính quỷ, sợ thần, khuất phục và biết ơn đấng bề trên. Thông tin thì bế tắc, kiến thức thì vừa ít vừa tù đọng, lời của các “thầy” như mưa dầm thấm đất, đúc nên một cái gông xiềng mang tên “an phận, ngoan ngoãn, phục tùng” trong lòng trăm họ.
Nói trắng ra, là nô tính, là nô dịch về tư tưởng.
Nguyễn Đông Thanh hoang mang ngẩn người bên bờ sông. Ánh trăng phản chiếu nơi con nước, những xác người đã bị cuốn trôi từ lâu, mặt sông không còn một vết đỏ của máu nào.
Gã thầm ngẫm lại...
Từ chỗ không có mục đích gì, chỉ muốn hưởng thụ, sống sót...
Cho đến lúc ở Nha Nghi, đứng bên hố xác, có một mục tiêu trong đời: để tiếng gầm thét của dân chúng xuyên thủng chín tầng trời, khiến anh hùng thiên hạ cúi đầu.
Nhưng... Nguyễn Đông Thanh bấy giờ mới phát hiện...
Đích đến đã có rồi, nhưng hắn chẳng có phương pháp nào để đi đến đích cả.
Hắn tự hỏi lòng mình. Khi đó chạy theo Lam Sơn, ủng hộ Lê Lợi, không phải là nhìn thấy tương lai mong ước thành sự thật, mà càng giống như nhắm mắt đưa chân, ôm tâm lý “không thành công thì thành nhân” mà thôi.
***
Tối...
Trần Yên Chi trở mình, tỉnh dậy.
Ở góc lều đối diện, Nguyễn Đông Thanh co cụm một xó, chân co lên sát người, hai tay bịt tai. Cả người hắn run lên lẩy bẩy từng cơn, như người bị ốm liệt giường.
Cô nàng lắc mình dậy, im lặng tới gần chỗ gã nằm.
Trần Yên Chi là người học võ, tai thính mắt tinh, cho dù trong lều tối đen như mực cũng không ảnh hưởng gì. Dựa vào thân thủ không tệ, cô nàng bước đi như lướt, đến bên cạnh Nguyễn Đông Thanh mà gã không hề hay biết gì. Nếu lúc này Trần Yên Chi muốn hại gã, thì bá hộ Nguyễn đã chết mười mấy lần rồi.
“Thanh!”
Cô nàng nhẹ giọng, cất tiếng gọi.
Nguyễn Đông Thanh giật mình, đưa tay toan lau mặt, thì hai bả vai đã bị Trần Yên Chi tóm lấy. Cô nàng dùng sức, xoay người gã ra đối mặt với mình, bấy giờ mới phát giác nước mắt đã rơi đầy mặt gã, còn chưa kịp lau khô.
Nguyễn Đông Thanh còn muốn giải thích, thì đã bị kéo một cái, cả người nhào tới trước. Hai cánh tay của Trần Yên Chi vòng qua, vỗ lên lưng hắn mấy cái.. Lúc này, cảm xúc trong lòng cũng không cách nào khống chế nổi nữa, tuôn trào như đê vỡ.
Giọng gã nghẹt lại, khẩn khoản, như một tiếng hét lặng thầm.
“Hễ nhắm mắt lại, tôi lại nhìn thấy bọn họ, bên tai nghe tiếng nói của bọn họ. Bọn họ mắng tôi, chửi tôi, trách cứ tôi, nguyền rủa tôi. Tôi là kẻ chỉ biết bốc phét, nói mà không làm.”
Hai nắm tay Nguyễn Đông Thanh nắm chặt lại, nước mắt không tự chủ được lăn dài:
“Cái gì mà giúp đỡ Lê Lợi, cái gì mà đánh lại quân Minh, cái gì mà gia nhập Lam Sơn chứ? Chẳng qua là tự huyễn hoặc bản thân, tìm cho mình một việc để làm, lảng tránh vấn đề. Tôi chẳng cứu được ai cả. Chẳng có gì thay đổi hết. Bọn họ đều chết. Tôi chẳng làm được gì cả.”
Trần Yên Chi hơi đẩy gã ra sau, hai bàn tay đặt lên mặt gã. Đôi mắt cô nàng nhìn thẳng vào mắt Nguyễn Đông Thanh, nghiêm túc hỏi:
“Thanh. Ở đời trước anh làm công việc gì?”
“Tôi? Một nhân viên văn phòng quèn.”
“Thế còn đời này?”
“Tôi... là một bá hộ đất Lương Sơn.”
“Còn gì nữa không?”
“Là người được Trần Ngỗi phong là Vô Học Thái Học Sinh.”
“Còn gì nữa?”
“Hình như... hết rồi...”
Trần Yên Chi bấy giờ mới nói:
“Anh cũng thấy đấy. Anh chẳng phải siêu anh hùng, cũng chẳng phải chúa cứu thế. Anh chỉ là một người bình thường, vô tình bị cuốn vào những chuyện chém chém giết giết này mà thôi. Thế nên đừng tự lấy tiêu chuẩn của siêu nhân ra làm khó mình nữa, được không?”
“Tôi biết chứ. Tôi biết mình chẳng là cái thá gì. Nhưng nếu tôi không làm thì ai dám đối đầu với giai cấp đặc quyền giả tạo kia? Sau đó, tôi lại sợ... Tôi sợ nếu tôi không khắt khe với mình, nếu tôi thả lỏng bản thân, thì tôi sẽ không còn dũng khí hay động lực để đặt chân lên con đường đầy gian nan ấy nữa.”
“Tôi đi với anh.”
“Hả?”
“Tôi đi với anh. Nếu anh quên, tôi sẽ nhắc anh. Nếu anh do dự, tôi sẽ đẩy anh tiến tới. Nếu anh bỏ cuộc, tôi sẽ đấm vào mặt anh, đến khi anh chịu đứng lên mới thôi.”
“Sẽ chết đấy.”
“Mạng tôi là anh cứu. Mạng người nhà tôi kiếp này cũng nhờ có anh mà giữ lại được. Tôi không thích nợ người khác.”
Trần Yên Chi ngừng lại, rồi cười:
“Huống hồ, thời đại này cũng đâu phải không có người dám phản kháng? Ít nhất, còn có Lê Lợi, Nguyễn Trãi. Thanh, anh không cô đơn. Giờ thì ngủ đi. Ngày mai, chúng ta còn phải đánh nhau với tên Liễu Thăng một trận.”
Tối đó, Nguyễn Đông Thanh được cô nàng ôm vào lòng, thiếp đi.
Bên tai không còn nghe thấy những tiếng nguyền rủa, oán trách vọng lại từ bên sông nữa.