Sau đó mấy ngày…
Xung đột hai bên bờ sông Đáy giữa quân Minh và quân Lam Sơn tiến vào giai đoạn bình ổn. Quy mô các trận chiến thu hẹp lại, trở nên nhỏ lẻ, không còn một trận đánh tầm cỡ như lần dong thuyền cướp bến đò trước đó nữa.
Liễu Thăng điều lính xây doanh trại bên bờ sông, lấy đó để neo đậu chiến thuyền. Quân Minh ngày nào cũng dong buồm qua sông, quấy phá chuyện đắp tường đất.
Lê Lợi thống lĩnh quân Lam Sơn lấy cung, tên mà bắn, nhiều lần đẩy lui quân Minh. Song luỹ đất cũng khó tránh khỏi việc bị kéo sập, mỗi ngày một hoặc hai đoạn.
Lũy bị sập, không thể không dùng sức người bù đắp. Quân Minh kéo sập đoạn nào, quân Lam Sơn lại bắt dân đinh đắp lại đoạn đó. Lúc này, nói là binh tranh, không bằng nói là thi gan. Hai bên đều không có bao nhiêu thương vong, chỉ xem ai lì lợm hơn, hậu phương người nào giỏi chịu áp lực hơn mà thôi.
Lê Lợi mắt thấy Liễu Thăng cho người xây thủy doanh, lại vì thiếu thuyền, không thể sang phá. Liễu Thăng lại thường lấy chuyện này ra châm chọc, muốn dụ quân Lam Sơn sang, chơi một chiêu “tập kích giữa chừng”, bẻ gãy quân Lam Sơn.
Hai bên giằng co, chớp mắt lại qua hai tháng.
Tháng sáu, nắng như đổ lửa.
Ánh mặt trời chiếu nghiêng xuyên qua tầng mây, đậu lên tấm lưng trần của dân đinh. Nắng nóng đáng sợ không thua bất cứ loại đòn roi nào của con người.
Nguyễn Đông Thanh thấy các dân đinh lịm đi vì nắng, rồi bị đánh thức bởi roi vọt, tuần hoàn lập lại mãi, trong lòng khó chịu. Gã bèn cho người nhấc nồi lên bếp, đun một nồi nước to, bảo binh sĩ phát cho dân giải khát.
Buổi ấy người ta vẫn chưa có thói quen uống nước đun sôi.
Nguyễn Đông Thanh hôm nay thấy nhiều dân đinh say nắng, muốn bổ sung nước cho họ, mới sực nhớ đến vấn đề này.
Dân đinh không biết đến cái gọi là vi khuẩn, chỉ thấy hành vi của Nguyễn Đông Thanh là lãng phí củi khô. Thậm chí, lắm kẻ còn bảo đây là hắn muốn hành hạ mọi người, nên mới đun nước nóng bắt dân đinh uống.
Nguyễn Đông Thanh bèn thuận nước đẩy thuyền, gánh cái danh “lòng dạ hiểm ác”, ép bọn hắn uống nước đun sôi để nguội.
Một hành động nhỏ, lại khiến tình hình dịch bệnh trong đám dân đinh giảm xuống thấy rõ. Lê Lợi trông thấy cũng khen không hết lời, vui vẻ ra mặt.
Nguyễn Đông Thanh trong quãng thời gian này cũng không ngồi không.
Vấn đề thứ nhất của khởi nghĩa Lam Sơn là khởi điểm quá thấp. Lê Lợi không phải quý tộc, không phải tướng lĩnh, chỉ là một hào trưởng địa phương. Thành thử, lực lượng ban đầu cũng chỉ gói gọn trong vòng quan hệ hào trưởng, địa chủ quanh vùng Diễn Châu, Hóa Châu, Thanh Hóa mà thôi.
Vấn đề thứ hai, là nơi khởi nghĩa: Lam Sơn – Thanh Hóa.
Lam Sơn cách Tây Đô quá gần, mà thành Tây Đô lại là nơi được nhà Hồ chọn làm kinh đô, xây dựng rầm rộ, quy mô hoành tráng. Nơi này chẳng khác nào một thanh kiếm treo trên long môn, khiến con cá chép Lê Lợi không dám nhảy lên.
Những chuyện như mượn binh Ai Lao, bỏ quê bỏ xứ trốn trong núi, cũng bắt nguồn từ hai vấn đề này mà ra.
Một vài “chiến thắng” thời kỳ đầu của Lam Sơn, Nguyễn Đông Thanh bỏ đi không thèm nhìn.
Hắn bây giờ cũng không phải là một thằng ất ơ vừa mới quay về thời Hồ mạt – Lê sơ này, biết tỏng thời xưa toàn viết láo viết toét chiến báo. Chỉ có chiến tuyến mới là bằng chứng thắng – bại đanh thép nhất. Sự thật là quân Lam Sơn như con hổ dữ trong cũi, bị khốn chặt ở vùng núi rừng Thanh Hóa chẳng thò ra ngoài được. Mãi sau, Chu Đệ chết, quân Lam Sơn giảng hòa cùng quân Minh, Lê Lợi mới chớp được thời cơ tiến ra Nghệ An.
Mà mấu chốt của mọi việc đều nằm ở thành Tây Đô!
Chỉ có cướp lấy thanh kiếm này, thì Lam Sơn mới có cơ hội ngóc đầu. Chỉ có cướp lấy tòa thành này, Lê Lợi mới không cần nhượng bộ nhiều đến vậy.
Nhưng cụ thể phải làm thế nào thì Nguyễn Đông Thanh bó chiếu.
Hắn là một tên đi làm thuê, cùng lắm là có chút kiến thức lịch sử ngoài chương trình phổ thông vì sở thích của bố. Bây giờ bảo hắn hoạch định chiến lược đại khái, hắn dựa vào hiểu biết và tầm nhìn vượt thời đại còn trông mèo vẽ hổ được. Chứ bắt hắn thống soái ba quân, chiếm thành cướp đất thì quá bằng không người bắt chó làm kế toán.
Đối với chuyện này, Nguyễn Trãi cũng tỏ ý bất lực.
Tây Đô có vị trí chiến lược quan trọng, ba mặt là sông, có thể nói là thành quách kiên cố hiếm thấy, có thể so với phòng tuyến Như Nguyệt khi xưa. Từ đây, xuôi về đông có thể dễ dàng ra tận cửa biển, hướng về bắc có thể ngược dòng sông Bưởi, vào gần sát đất Ninh Bình. Phương nam thì có thể xuôi thuyền theo kênh, từ sông Mã vào sông Chu, chỉ vài tiếng là vó ngựa chạm đến Lam Sơn.
Có thể nói, thành này phát huy ưu thế thủy chiến của người Việt đến tột độ, chẳng kém gì đường nước ở Thăng Long.
Nơi này từng được Hồ Quý Li chọn làm kinh đô, thu hết ánh mắt của các phe thế lực. Thành thử, Đặng Tất Cảnh Chân cũng tốt, Trương Phụ Mộc Thạnh cũng được, hai bên đều không có khả năng nhả thành Tây Đô cho Lam Sơn.
Ý nghĩ của Nguyễn Đông Thanh tuy tốt, nhưng đặt trong bối cảnh hiện tại thì chẳng khác nào cướp thịt từ trong miệng của hổ, báo cả.
Lại qua mấy ngày...
Bùi Quốc Hưng chỉ huy một đội thuyền nghênh ngang từ phía nam lên, cuối cùng đậu tại bến Bô Cô.
Quân Minh thấy thuyền địch, bèn ngừng chuyện phá bĩnh, chuyên tâm xây dựng thủy trại ở bờ bắc.
Lê Lợi thân là chủ tướng “chiến khu Bãi Trứ”, bèn đón Bùi Quốc Hưng vào lều, khao quân nghỉ ngơi ba ngày.
Nguyễn Đông Thanh cũng được gọi tới.
Linh hồn hắn đến từ đời sau, lễ giáo phong kiến sớm đã bị chiến tranh nhân dân nghiền nát tám chín phần mười. Thành thử, ngôn hành cử chỉ trong mắt người xưa đều vô cùng vô lễ, tùy tiện. Bảo hắn cúi đầu thi lễ, khách sáo một hai câu còn được. Nhưng bắt Nguyễn Đông Thanh phải tuân thủ toàn bộ lễ pháp, nói cái gì “chi hồ giả dã” của nhà Nho, chẳng bằng để hắn treo cổ tự tử.
Thành thử, Bùi Quốc Hưng trên bàn tiệc cứ nhíu mày luôn, rất không vui.
Bấy giờ, Nguyễn Đông Thanh giả say, cười mà nói:
“Mỗ từng gặp một tướng gọi là Trịnh Khả, tay múa song kích. Về sau mới phát giác lưỡi kích toàn là lá thiếc, ngoài bọc sắt mỏng, quả thật là sặc sỡ bên ngoài mà mục ruỗng bên trong. Tướng quân lưng đeo cung báu, không biết có phải cũng là...”
“Bá hộ Nguyễn, cậu say rồi, chớ có nói lung tung.”
Lê Lợi ngồi dậy, miệng quát, nhưng đôi mắt lại ném cho Nguyễn Đông Thanh một cái nhìn trấn an, tựa hồ muốn nói: “Cứ tiếp tục diễn, chúa công ta chống lưng cho cậu!”
Nguyễn Đông Thanh cúi đầu, nói:
“Chúa công muốn giữ thể diện cho ngài, nên mỗ phải giả vờ say. Hấc. Xin lỗi.”
Bùi Quốc Hưng mặt đen như đít nồi, quát:
“Thất phu! Lấn ta quá đáng, hôm nay phải giết ngươi tiết hận!”
“Anh Hưng, tốt xấu gì bá hộ Nguyễn cũng là lại dưới trướng ta. Ngài vuốt mặt thì cũng nể mũi chứ.”
Lê Lợi nhẹ nhàng đặt tay lên chuôi gươm của Bùi Quốc Hưng, đẩy gươm lại vào vỏ. Bùi Quốc Hưng thử mấy lần, cũng không thể nào rút gươm ra được. Cuối cùng, gã hừ lạnh một tiếng, nói:
“Mỗ những tưởng Lam Sơn Lê Lợi là anh hùng ở đời, không ngờ lại để một thất phu nhục ta. Bùi mỗ tự thấy không phải người cùng đường với các vị, bữa rượu này không uống cũng được.”
Nguyễn Đông Thanh thấy hắn phất áo muốn đi, vỗ tay mà khen:
“Nói hay lắm. Đáng tiếc, cũng chỉ là hạng giá áo túi cơm.”
“Thất phu! Ngươi nói cái gì?”
Bùi Quốc Hưng mới nãy mặt đen như đít nồi, giờ đã đỏ như mông khỉ. Hắn bẻ cổ, bóp ngón tay, chực xông vào đánh.
Nguyễn Đông Thanh lại nói:
“Chính mình chịu nhục, hăng hái xung phong muốn tính sổ với mỗ. Vậy lúc quốc gia chịu nhục các hạ đang làm gì?”
“Chuyện này...”
“Mỗ không ngại kể cho các hạ, hiện tại ở Thăng Long đám Mạc Thúy, Nguyễn Huân đã dâng tấu lên phương bắc, tự biếm quốc gia thành quận, huyện của nước người. Ngài nếu có thể lấy thái độ đó đi hỏi tội bọn hắn, mà không phải dùng lên đầu mỗ, thì mẹ nó thiên hạ sớm đã thái bình.”
Nguyễn Đông Thanh đập bàn, mặt câng câng, trên trán tựa hồ viết rõ mấy chữ “đánh tao đi”.
Mà lời gã nói lại khiến Bùi Quốc Hưng nhất thời xoắn xuýt, không biết phải nói gì.
Nổi giận? Người ta lấy đại nghĩa quốc gia ra, nói có lí có cứ. Đã vậy trong lời nói còn có ý khen hắn có tài dẹp an thiên hạ, gánh vác núi sông.
Nhưng không nói gì, vậy chẳng phải là bị chửi khơi khơi ra sao?
Nguyễn Đông Thanh thấy thế, lại tiếp:
“Mỗ là Thất Học Thái Học Sinh, không hiểu những đạo lý đao to búa lớn của cánh sĩ phu Nho giáo. Nhưng trước mặt có một chiến cơ trăm năm khó có, nếu như lợi dụng thì có thể cướp lấy Cổ Lộng, đi ỉa đi đái trên đầu quân giặc. Nhưng ngặt nỗi Lam Sơn ít người thiếu tướng, cần người dũng mãnh cơ trí cùng phối hợp mới làm nên chuyện.”
Nói đoạn, chỉ về phía thân cây ở đằng xa:
“Mỗ thấy Bùi tướng quân về mặt khí độ thì chưa đạt, nhưng lưng đeo cung quý, không biết võ nghệ có đủ để cùng bàn chuyện lớn hay không.”
Bùi Quốc Hưng hỏi:
“Muốn thử thế nào?”
“Mỗ có một con sen thân thiết, có thể thử tài tướng quân. Hai người cùng đứng cách cái cây bảy mươi bước, giương cung quý mà bắn. Nếu như ngài bắn trúng, nó bắn trượt, thì Lam Sơn ta quy thuận tướng quân, nghe ngài làm chủ. Nhưng nếu nó chẳng may bắn trúng thì mặc kệ ngài bắn trúng hay trượt, thì chuyện vượt sông hạ thành ngài làm phó cho chúng ta. Không biết Bùi tướng quân thấy sao?”
Nói đoạn, Nguyễn Đông Thanh ra hiệu, để Trần Yên Chi bước vào.